Câu 2: Bàn về thơ, nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm cho rằng: “Thơ là ý lớn, tình s…
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm rõ ý kiến trên qua bài thơ sau:
NGỤ NGÔN CỦA MỖI NGÀY
(Đỗ Trung Quân)
Ngồi cùng trang giấy nhỏ
Tôi đi học mỗi ngày
Tôi học cây xương rồng
Trời xanh cùng nắng bão
Tôi học trong nụ hồng
Màu hoa chừng rỏ máu
Tôi học lời ngọn gió
Chẳng bao giờ vu vơ
Tôi học lời của biển
Đừng hạn hẹp bến bờ
Tôi học lời con trẻ
Về thế giới sạch trong
Tôi học lời già cả
Về cuộc sống vô cùng
Tôi học lời chim chóc
Đang nói về bình minh
Và trong bia mộ đá
Lời răn dạy đời mình.
Câu 2: Bàn về thơ, nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm cho rằng: “Thơ là ý lớn, tình sâu trong lời hay, tiếng đẹp.” Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm rõ ý kiến trên qua bài thơ “Ngụ ngôn của mỗi ngày” của Đỗ Trung Quân.
1. Giải thích ý kiến của Trần Thanh Đạm:
Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ từng thành tố trong định nghĩa của nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm.
- “Ý lớn”: Đây là những tư tưởng, quan điểm, thông điệp cốt lõi mà nhà thơ muốn gửi gắm. Ý lớn không chỉ là một suy nghĩ thoáng qua mà là những vấn đề có ý nghĩa sâu sắc, có giá trị nhân văn, có thể là những chiêm nghiệm về cuộc đời, xã hội, con người, hay những khát vọng cao đẹp. Ý lớn đòi hỏi sự suy tư, trí tuệ và tầm nhìn của người nghệ sĩ.
- “Tình sâu”: Tình cảm ở đây không chỉ là những cảm xúc hời hợt mà là những rung động mãnh liệt, chân thành, sâu lắng của tâm hồn nhà thơ. Đó có thể là tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống, hay những nỗi niềm day dứt, trăn trở. Tình sâu lay động trái tim người đọc, khiến họ đồng cảm và chia sẻ.
- “Lời hay, tiếng đẹp”: Đây chính là phương tiện, là hình thức biểu đạt của thơ. “Lời hay” là cách dùng từ ngữ tinh tế, trau chuốt, gợi hình, gợi cảm. “Tiếng đẹp” là âm điệu, nhịp điệu, thanh bằng, thanh trắc được sắp đặt khéo léo tạo nên nhạc tính cho câu thơ. Lời hay, tiếng đẹp không chỉ làm cho bài thơ có giá trị thẩm mỹ cao mà còn giúp truyền tải trọn vẹn “ý lớn” và “tình sâu” đến với người đọc một cách hiệu quả nhất.
Như vậy, theo Trần Thanh Đạm, thơ ca không chỉ là những câu chữ hoa mỹ mà phải là sự kết hợp hài hòa, tương hỗ giữa nội dung tư tưởng (ý lớn, tình sâu) và hình thức nghệ thuật (lời hay, tiếng đẹp). Một bài thơ hay, theo định nghĩa này, phải có cả cái “hồn” (ý, tình) và cái “xác” (lời, tiếng) đẹp đẽ, tinh tế.
2. Làm rõ ý kiến trên qua bài thơ “Ngụ ngôn của mỗi ngày” của Đỗ Trung Quân:
Bài thơ “Ngụ ngôn của mỗi ngày” của Đỗ Trung Quân là một minh chứng sinh động cho định nghĩa về thơ của Trần Thanh Đạm. Bài thơ đã thể hiện rõ “ý lớn, tình sâu” được gói ghém trong “lời hay, tiếng đẹp”.
a. “Ý lớn” và “Tình sâu” trong bài thơ:
- Ý lớn: Bài thơ mang một ý lớn về lẽ sống, về cách chúng ta học hỏi, chiêm nghiệm từ cuộc đời, từ vạn vật xung quanh. Tác giả muốn khẳng định giá trị của việc học không chỉ trong sách vở mà còn từ chính cuộc sống, từ những điều tưởng chừng bình dị nhất. Đó là bài học về sự kiên cường (cây xương rồng), về tình yêu và sự hy sinh (nụ hồng rỏ máu), về sự không ngừng nghỉ, không giới hạn (ngọn gió, biển cả), về sự trong sáng, thánh thiện (con trẻ), về sự từng trải và trí tuệ (già cả), về niềm hy vọng và sự sống mới (chim chóc, bình minh), và cuối cùng là bài học về đạo lý làm người từ những điều tưởng chừng đã mất đi (bia mộ). Ý lớn ở đây là nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của cuộc đời, về triết lý sống tích cực và bài học kinh nghiệm quý báu từ mọi nguồn.
- Tình sâu: Bài thơ thấm đẫm tình yêu cuộc sống, tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người của tác giả. Tác giả thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, luôn hướng về những điều tốt đẹp và luôn muốn tìm kiếm, chắt lọc những bài học quý giá. Tình cảm đó còn là sự trân trọng đối với những bài học mà cuộc sống ban tặng, là sự suy tư, chiêm nghiệm đầy lắng đọng về ý nghĩa của sự tồn tại. Ta cảm nhận được sự khao khát sống, khao khát học hỏi và sự đồng cảm sâu sắc của tác giả với mọi sự vật, hiện tượng.
b. “Lời hay, tiếng đẹp” trong bài thơ:
Đỗ Trung Quân đã sử dụng ngôn ngữ thơ giản dị, gần gũi nhưng vô cùng tinh tế và giàu sức gợi để truyền tải những ý tưởng và tình cảm của mình.
- Hình ảnh thơ độc đáo, giàu sức gợi: Tác giả đã nhân hóa các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên để gửi gắm bài học. “Cây xương rồng” với “trời xanh cùng nắng bão” gợi lên sự kiên cường, bất khuất trước nghịch cảnh. “Nụ hồng màu hoa chừng rỏ máu” vừa gợi màu sắc rực rỡ, vừa ẩn chứa sự hy sinh, sự cống hiến. “Lời ngọn gió chẳng bao giờ vu vơ” nói lên sự hữu ích, có ý nghĩa của những lời nói, hành động. “Lời của biển đừng hạn hẹp bến bờ” là lời khuyên về sự rộng lớn, bao dung, không giới hạn trong suy nghĩ và hành động. Hình ảnh “lời con trẻ về thế giới sạch trong” và “lời già cả về cuộc sống vô cùng” đối lập nhau nhưng cùng mang giá trị nhân văn sâu sắc. “Lời chim chóc đang nói về bình minh” là biểu tượng của niềm hy vọng, sự khởi đầu mới. Cuối cùng, “trong bia mộ đá, lời răn dạy đời mình” là một hình ảnh đầy suy tư, nhắc nhở ta về sự hữu hạn của cuộc đời và những bài học quý giá.
- Nhịp điệu và âm điệu: Bài thơ có nhịp điệu đều đặn, nhẹ nhàng, phù hợp với giọng điệu tâm tình, thủ thỉ của lời thủ thỉ tự sự. Các câu thơ ngắn gọn, dễ thuộc, dễ nhớ tạo cảm giác gần gũi, thân mật như một cuộc trò chuyện.
- Từ ngữ chọn lọc, giàu cảm xúc: Cách dùng từ “học” được lặp đi lặp lại nhiều lần trong bài thơ không gây nhàm chán mà ngược lại, nó nhấn mạnh chủ đề chính và tạo sự thống nhất, mạch lạc cho toàn bài. Những tính từ, động từ được sử dụng rất đắt, ví dụ như “rỏ máu”, “vu vơ”, “hạn hẹp”, “sạch trong”, “vô cùng” đều góp phần khắc họa rõ nét ý nghĩa và cảm xúc mà tác giả muốn truyền tải.
Kết luận:
Qua việc phân tích bài thơ “Ngụ ngôn của mỗi ngày”, chúng ta thấy rõ bài thơ đã làm sáng tỏ hoàn hảo định nghĩa của Trần Thanh Đạm. “Ý lớn” về lẽ sống, về bài học cuộc đời được truyền tải một cách sâu sắc. “Tình sâu” yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, trân trọng những bài học quý giá được thể hiện qua từng câu chữ. Tất cả những điều đó được gói ghém trong “lời hay, tiếng đẹp” – những hình ảnh thơ giàu sức gợi, nhịp điệu êm đềm, ngôn ngữ trong sáng, tinh tế. Bài thơ không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn có giá trị giáo dục sâu sắc, khơi gợi ở người đọc những suy ngẫm và chiêm nghiệm ý nghĩa về cuộc sống.
Vậy là chúng ta đã cùng nhau giải quyết xong câu hỏi này. Các em về nhà ôn tập lại bài và có thể tìm đọc thêm những bài thơ khác để thấy rõ hơn sự kết hợp giữa nội dung và hình thức trong thơ ca nhé!
Nói hơn thế, bản chất văn học dệt từ viên ngọc của người thi ca luôn là bản ác bất tử kiến tạo từ cái đẹp, cái chất và cái tình. Tôi từng nghe rằng vốn dĩ thơ ca luôn ẩn sâu trong cái nhân của chân-thiện-mỹ. Chúng chưa bao giờ là tiếng gọi khô khan mà là nơi nghệ thuật và triết lý nhân sinh hòa làm một để dạy con người thấu cảm chân trời mời. Bàn về sức mạnh khôn nguôi của thi ca nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm nhận định:”Thơ là ý lớn, tình sâu trong lời hay, tiếng đẹp.” Thanh đệm của thơ ca được viết bằng con chữ và được chôn cất một bài học sâu qua mảnh đất màu mỡ của đời người. Với Đỗ Trung Quân có lẽ từng nét thơ trong tim ông là sức mạnh hoành tráng của tình cảm, sâu lắng của tiếng gọi thơ và ý nghĩa lớn ẩn dấu qua từng con chữ. Tác phẩm “Ngụ ngôn của mỗi ngày” của ông là nhân chứng sáng giá nhất tỏ bày cho nhận định trên.
Để hiểu rõ sứ mệnh của văn chương hơn hết ta thấu hiểu nghĩa lý sâu đậm của nhận định:”Thơ là ý lớn, tình sâu trong lời hay, ý đẹp.” Thơ là ý lớn ý chỉ đến với thơ ca thiên chức của nó luôn mang sức mạnh để chiêm nghiệm, là nơi chứa tư tưởng người cầm bút, bài học đắt giá mang sau vỏ bọc của ngôn từ. Là hồn cốt lý trí của thơ ca. Chưa dừng lại ở đó, với thơ người ta còn trọng chữ “tình”. Tình sâu là mạch cảm xúc vui tươi, niềm tin, hạnh phúc và có khi đau thương của thơ ca, nó là những tình yêu chân thành của người nghệ sĩ trước cuộc đời của thơ ca. Cuối cùng, Thanh Đạm cho rằng một ý nghĩa lớn và tình sâu lắng luôn được bao bọc trong “lời hay, tiếng đẹp”. Cái thẫm mỹ luôn là vật mang đẹp nhất của ngôn từ, với ngôn từ sâu đậm ý trời nhưng lại thô kệch và lúng túng thì áng văn ấy mất nửa tâm hồn. Qủa thật nhận định của Thanh Đạm đã nhấn mạnh sứ mệnh của thơ ca là tình yêu chân thành được mài dũa qua ngòi bút người nghệ sĩ, nhưng tình yêu ấy phải chắt lọc qua lý trí đúng đắn, tư duy thông thạo đời mới trở nên nghĩa lý từ đó biến thành con chữ đẹp hồn lẫn xác.
Không thể phụ nhận thơ ca hay ở xúc cảm thành thật với đời nhưng nếu chỉ bộc bạch lòng mình chưa đủ tài năng vẹn toàn người nghệ sĩ, trong nó phải chan chứa lấy tầm vóc của thời đại, ý tưởng là ý nghĩa lớn. Như cách Nguyễn Khải đã quan niệm:”Gía trị của một tác phẩm nghệ thuật trước hết là giá trị tư tưởng của nó.” Vì thế mà Đỗ Trung Quân đã dùng con chữ của mình gửi gắm những bài học lớn cho người đọc.
“Tôi học cây xương rồng
Trời xanh cùng nắng bão
Tôi học trong nụ hồng
Màu hoa chừng rỏ máu
Tôi học lời ngọn gió
Chẳng bao giờ vu vơ
Tôi học lời của biển
Đừng hạn hẹp bến bờ.”
Ông đã dưa những bài học đắt giá của đời người vào vần thơ một cách xác đác, thơ mang ý lớn là ý mang tầm vóc của người nghệ sĩ. Nó chắt lọc là để con người sống xứng đáng hơn với phần người trong mình. Ông đưa ta như “cây xương rồng” để dám mạnh mẽ chống chịu với nắng bão, cho ta như “nụ hồng” dám ươm mầm sặc sỡ, cho ta thành”ngọn gió” để học cách giữ lấy lấy, cho ta là “biển lớn” để mở rộng lòng yêu thương. Vần thơ của ông đã chứng minh một sức mạnh phi thường thơ ca, thơ ca mang phải là con chữ mang hồn cốt và có giá trị, chúng cho ta chiêm nghiệm và sống đáng giá hơn. Nếu chỉ mang những tư duy hời hợt, vô nghĩa thì vốn chỉ là ngôn từ xáo rỗng vô nghĩa trong đời.
Hơn thế, Thanh Đạm còn mang “tình sâu” mạnh mẽ trong từng con chữ. Thơ nếu thiếu chữ tình khó lòng chạm tới trái tìm người đọc. Bởi vốn dĩ “văn học là nhân học” muốn thành áng văn sáng giá trước hết phải chứa tình sâu đậm. Vì lẽ ấy Trung Quân cũng đã mang tình yêu của mình đến với văn chương một cách xác đáng.
“Tôi học lời già cả
Về cuộc sống vô cùng
Tôi học lời chim chóc
Đang nói về bình minh.”
Ông dùng ngôn từ giản dị nhất, nói đến tình cảm của mình với cuộc đời. Cái tình mà ông mang là tình yêu sâu sắc vào con người và cuộc đời. Một niềm tin với tình yêu trong sáng, một sức mạnh phi thường về cuộc sống hồn nhiên, trong sáng. Tình cảm ấy không mang danh da vọng tộc, chỉ đẹp và lấp lánh như ánh “bình minh. Một tâm hồn hướng thiện, sống cao đẹp và đầy nhân văn.
Thơ ca sau cùng vẫn là chân-thiện-mỹ. Phần mỹ là phần xác xinh đẹp bao bọc lấy giá trị tâm hồn của thơ ca. Một áng thơ hay không thể được chứa đựng qua con chữ thô kệch, thiếu sức sống. Nó phải chắt lọc qua ngôn từ giản dị nhưng lại mang đầy nhịp điệu, có thể sắc sảo và lộng lẫy để mang tâm hồn sáng giá. Cái đẹp trong thơ của Đỗ Trung Quân vốn chẳng khoa chương lộng lẫy mà là cái đẹp giản dị từ đời thường. Trong tác phẩm ông dùng biện pháp điệp ngữ suốt cả bài thơ, nó đã phần nào nhận định giá trị cuộc sống đến từ việc học, học làm người, học đáng giá và sống có ý nghĩa. Những hình ảnh so sánh xuất hiện như bức tranh nghệ thuật đẹp đẽ thơ ca. Chỉ bao nhiêu đấy thôi, đã chắc chắn rằng cái đẹp của âm vang, của con chữ đã thấm sâu vào hồn người. Mang giá trị đẹp đẽ cả hồn lẫn xác.
Từ tác phẩm của Đỗ Trung Quân ta đã khép lại trang văn đầy cảm xúc cũng mơ ra chân trời mới về giá trị thơ ca. Thơ ca hai con chữ giản đơn nhưng lại là chuyến lái đò đẩy cảm xúc cho ta giá trị đời người, bài học đắt giá cuộc sống và cảm nhận lại chính xúc cảm yêu thương từ con tim chính mình. Có thể thấy nhận định của Trần Thanh Đạm hoàn toàn đúng. Hãy để thơ là cất tiếng của tư tương mang tầm vóc, mang giá trị cao đẹp, hãy để thơ là cảm xúc mãnh liệt dâng trào trong tâm thức mỗi người và là ngôn từ tươi đẹp biết hát trong từng trang giấy.
\(#Tn\)
\(-\) Đây là bài viết theo hướng học chuyên, có thể là bài dài nên mình hạn chế bớt để dễ hiểu, nếu mà muốn luyện chuyên có thể nói mình, mình sẽ viết đầy đủ và củng cố hơn ạ.
\(-\) Mình học chuyên văn 3 năm đã thi vượt và có giải kha khá, nếu cần dàn bài đẩy đủ hay cách học hay sửa chữa bài của mình và người khác đều có thể ạ. Bài mình tuyệt nhiên không sử dụng AL ạ, mình viết dài nên dễ bị xóa nhầm. Xin cảm ơn!

Trợ Lý Xưởng In Thiên Nam
Add comment