Câu 2: Viết bài văn nghị luận ( khoảng 600 chữ ) phân tích, đánh giá chủ đề và n…
Ở cái xóm nhỏ ven thành phố này, người ta nhắc tới anh Hết còn nhiều hơn chủ tịch tỉnh đi họp. Ðứa nào hỗn hào, lười biếng, má nó biểu: “Lại coi thằng Hết kìa! Ba mươi mấy tuổi đầu rồi, ngày đi làm thuê, làm mướn, không có chuyện gì nó chê, chiều về lụi hụi chui vô bếp nấu cơm, giặt giũ cho cha già, hiếu thảo thấy mà thương”. [..] Tía anh Hết năm nay 72 tuổi. Tuổi này, người ta hay đau yếu nhưng ông vẫn còn sỏi lắm. Ông già khó tính, thêm tật lãng tai. [..] Chừng năm năm trước, ông còn vô bếp nấu cơm, mắt mũi tèm nhèm để lửa táp vô vách lá, nhà cháy rụi. Anh Hết cất lại nhà trên nền cũ đầy tro. [..] Bữa nào anh Hết cũng chổng mông thổi lửa, rồi dọn cơm sẵn, ngồi dựa cửa trước chờ tía anh về. Có bữa chờ tới mỏi mòn, để bụng đói ngồi ngủ gà gật. Người ở xóm biểu cứ ăn trước đi chớ chờ gì, anh cười, mâm cơm có ấm cúng, tía tôi mới vui miệng, ăn nhiều. Nhưng có bữa, anh mới vừa giở cửa chui vô nhà, ông già đã ngồi nhai cơm cháy, bị nghẹn, mắt ầng ậng nước. Anh thương tía quá chừng vội vàng chạy đi vo gạo. Anh Hết mồ côi má từ mới lọt lòng. [..] . Tía anh không đi bước nữa, ngày ngày cột sợi dây võng dài từ nhà trên xuống bếp, vừa đưa vừa nấu nước cháo, hát vọng lên, “Chớ ầu ơ. Cây khô đâu dễ mọc chồi”. Chừng này tuổi rồi, mỗi khi anh đặt lưng xuống bộ vạc, lại nhớ ngơ nhớ ngẩn lời hát của tía anh ngày xưa. Buồn lắm, nghe đứt ruột lắm. Càng nhớ anh càng thương ông. Câu được vài ba con cá rô, anh bắc cái ơ lên kho quẹt, tỉ mẩn lọc phần thịt dành cho tía, phần xương xẩu phần mình. Những trưa nắng tốt, tranh thủ giờ cơm trưa anh xin phép chạy về, dắt tía anh ra ngoài hè tắm rửa, kỳ cọ. Những tối trời mưa, anh lúp xúp cầm cái nón mê đi đón ông già. Ði cạnh, che đầu cho ba, nghiêm trang như đang chở che cho sinh linh nào đó nhỏ bé lắm, yếu ớt lắm. Nhưng ông già đâu có yếu, ông xách gậy rượt đánh anh hoài đó chớ. Tía đầu bạc rượt thằng con đầu xanh chạy cà tưng đuổi nhau lòng vòng quanh mấy cây me già ngoài mé lộ. Ðám trẻ xúm lại, vỗ tay như coi hát bội. Hỏi anh Hết sao không chịu chạy nhanh để bị dính đòn, anh bảo, chạy thì được, nhưng càng nhanh thì tía anh càng mệt, chịu có mấy roi nhẹ hều, nhằm gì [..] Ai nghe nói cũng thương. Đúng là tên sao thì người vậy, chịu thương chịu khó hết mình, hiếu thảo hết mình [..] (Trích “Hiu hiu gió bấc”, Nguyễn Ngọc Tư, theo fanpage Nguyễn Ngọc Tư đăng ngày 13/08/2015).
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào một đoạn trích vô cùng cảm động và ý nghĩa, được trích từ tác phẩm “Hiu hiu gió bấc” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư – một cây bút đã rất quen thuộc với văn học đương đại Việt Nam, đặc biệt là với những trang viết đậm chất Nam Bộ, thấm đẫm tình người và triết lý sống. Đoạn trích này, dẫu chỉ là một lát cắt nhỏ, đã mở ra trước mắt chúng ta một bức tranh chân thực, dung dị về tình phụ tử, về lòng hiếu thảo, đồng thời thể hiện rõ nét tài năng của Nguyễn Ngọc Tư trong việc kiến tạo thế giới nghệ thuật.
Bài làm:
Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văn nổi bật của văn học Việt Nam đương đại, được biết đến với lối viết dung dị, gần gũi nhưng ẩn chứa chiều sâu cảm xúc và triết lý. Đoạn trích từ tác phẩm “Hiu hiu gió bấc” là một minh chứng rõ nét cho phong cách ấy. Đoạn trích không chỉ khai thác thành công chủ đề về tình phụ tử, lòng hiếu thảo mà còn chinh phục người đọc bằng những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật, đặc biệt là ngôn ngữ và cách xây dựng chi tiết.
I. Phân tích, đánh giá chủ đề: Vẻ đẹp của tình phụ tử và lòng hiếu thảo
Chủ đề nổi bật nhất, xuyên suốt đoạn trích chính là vẻ đẹp cao quý của tình phụ tử và lòng hiếu thảo của người con dành cho cha. Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa thành công tình cảm thiêng liêng này thông qua hình ảnh nhân vật anh Hết và mối quan hệ giữa anh với người tía già.
Anh Hết hiện lên như một biểu tượng của lòng hiếu thảo và sự hi sinh thầm lặng. Dù ở cái tuổi “ba mươi mấy đầu rồi”, ngày đi làm thuê, làm mướn không chê việc gì, anh vẫn dành trọn vẹn tình yêu thương và sự chăm sóc cho người cha già. Chi tiết “chiều về lụi hụi chui vô bếp nấu cơm, giặt giũ cho cha già” đã cho thấy sự tần tảo, không quản ngại vất vả của anh. Lòng hiếu thảo ấy còn được thể hiện rõ qua những hành động cụ thể, nhỏ nhặt nhưng chất chứa tình nghĩa: “Bữa nào anh Hết cũng chổng mông thổi lửa, rồi dọn cơm sẵn, ngồi dựa cửa trước chờ tía anh về”. Anh thà nhịn đói, ngủ gà gật chứ nhất quyết không ăn trước vì “mâm cơm có ấm cúng, tía tôi mới vui miệng, ăn nhiều”. Đó là sự thấu hiểu sâu sắc tâm lý người già, là tình yêu thương vô điều kiện.
Sự hi sinh của anh Hết không chỉ dừng lại ở việc chăm sóc thường nhật. Khi tía làm cháy nhà, anh “cất lại nhà trên nền cũ đầy tro”, không một lời oán trách. Anh tỉ mẩn “lọc phần thịt dành cho tía, phần xương xẩu phần mình” khi kho cá rô. Anh tranh thủ giờ nghỉ trưa để “dắt tía anh ra ngoài hè tắm rửa, kỳ cọ” – một hành động đòi hỏi sự kiên nhẫn, tế nhị và vô cùng đáng quý. Đặc biệt, chi tiết anh “lúp xúp cầm cái nón mê đi đón ông già” trong đêm mưa, che đầu cho tía, nghiêm trang như đang “chở che cho sinh linh nào đó nhỏ bé lắm, yếu ớt lắm”, dù ông tía lại là người “xách gậy rượt đánh anh hoài đó chớ”, rồi anh “chịu có mấy roi nhẹ hều” để tía không mệt – đây chính là đỉnh cao của lòng hiếu thảo, của tình yêu thương không giới hạn, vượt lên cả những hành động bạo lực tưởng chừng như vô lý.
Không chỉ có anh Hết, người tía già tuy khó tính, lãng tai nhưng cũng là một người cha giàu tình cảm. Chi tiết ông “không đi bước nữa” sau khi vợ mất, “ngày ngày cột sợi dây võng dài từ nhà trên xuống bếp, vừa đưa vừa nấu nước cháo, hát vọng lên” những câu hát ru con, cho thấy tình yêu thương của một người cha đã nén lại nỗi đau riêng để dành trọn vẹn cho con. Lời hát “Cây khô đâu dễ mọc chồi” của ông đã ghim sâu vào tâm trí anh Hết, trở thành một phần ký ức “buồn lắm, nghe đứt ruột lắm”, càng khiến anh Hết “càng nhớ anh càng thương ông”.
Tên gọi “Hết” của nhân vật cũng mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Như lời nhận xét của người xóm: “Đúng là tên sao thì người vậy, chịu thương chịu khó hết mình, hiếu thảo hết mình”. Chủ đề này không chỉ ca ngợi một cá nhân mà còn khẳng định giá trị vĩnh cửu của lòng hiếu thảo, tình cảm gia đình trong xã hội hiện đại.
II. Đánh giá những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật
Để truyền tải chủ đề một cách thấm thía, Nguyễn Ngọc Tư đã khéo léo sử dụng những thủ pháp nghệ thuật đặc trưng, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho đoạn trích:
1. Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, đậm chất Nam Bộ:
Nguyễn Ngọc Tư đã rất thành công khi sử dụng ngôn ngữ đời thường, gần gũi, mang đậm hơi thở của đời sống Nam Bộ. Các từ ngữ địa phương như “tía”, “má”, “lụi hụi”, “sỏi lắm”, “chổng mông”, “cà tưng”, “ơ” không chỉ tạo nên sự chân thực, sinh động mà còn giúp người đọc hình dung rõ hơn về bối cảnh, con người nơi đây. Việc sử dụng từ láy như “tèm nhem”, “mỏi mòn”, “ầng ậc”, “ngơ ngẩn”, “đứt ruột”, “tỉ mẩn”, “lúp xúp”, “cà tưng” đã góp phần tăng tính gợi hình, gợi cảm, giúp diễn tả cảm xúc, hành động của nhân vật một cách tinh tế và giàu biểu cảm.
2. Xây dựng nhân vật và chi tiết đắt giá:
Nhân vật anh Hết được khắc họa chủ yếu qua hành động và lời nhận xét của cộng đồng. Người xóm chính là “cái loa” truyền tải những phẩm chất tốt đẹp của anh, khiến câu chuyện thêm phần khách quan và thuyết phục. “Đứa nào hỗn hào, lười biếng, má nó biểu: “Lại coi thằng Hết kìa!…” là một ví dụ. Tía anh Hết thì hiện lên qua lời kể về quá khứ và những hành động độc đáo trong hiện tại. Đặc biệt, nhà văn đã rất tài tình trong việc lựa chọn và xây dựng các chi tiết nghệ thuật nhỏ nhưng giàu ý nghĩa:
- Chi tiết “mâm cơm có ấm cúng, tía tôi mới vui miệng, ăn nhiều” thể hiện sự thấu hiểu, yêu thương sâu sắc, biết hy sinh niềm vui cá nhân vì cha.
- Chi tiết “tỉ mẩn lọc phần thịt dành cho tía, phần xương xẩu phần mình” là biểu hiện cụ thể của sự nhường nhịn, hi sinh.
- Chi tiết “chịu có mấy roi nhẹ hều, nhằm gì” khi bị tía rượt đánh không phải là sự yếu đuối mà là sự bao dung, thấu hiểu, không muốn cha mình phải mệt mỏi thêm. Đây là một chi tiết độc đáo, thể hiện tình cha con theo một cách rất riêng, rất đời và vô cùng cảm động.
- Chi tiết “lời hát của tía anh ngày xưa” là sợi dây kết nối quá khứ và hiện tại, là kỷ niệm khắc sâu trong tâm hồn anh Hết, giải thích phần nào cho tình yêu thương mãnh liệt mà anh dành cho cha.
3. Giọng điệu kể chuyện tâm tình, hóm hỉnh:
Đoạn trích được kể với giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, như lời kể của một người hàng xóm thân thuộc, gần gũi. Đôi chỗ, giọng văn lại trở nên hóm hỉnh, pha chút hóm hỉnh, ví dụ như cảnh ông tía “xách gậy rượt đánh anh hoài đó chớ”, hay “đám trẻ xúm lại, vỗ tay như coi hát bội”. Sự kết hợp này khiến câu chuyện không bi lụy mà trở nên nhẹ nhàng, đời thường, dễ đi vào lòng người đọc.
Tóm lại, đoạn trích từ “Hiu hiu gió bấc” của Nguyễn Ngọc Tư là một áng văn giàu giá trị nhân văn sâu sắc. Bằng ngòi bút tài hoa, giản dị nhưng tinh tế, nhà văn đã khắc họa thành công bức tranh cảm động về tình phụ tử và lòng hiếu thảo, đồng thời để lại dấu ấn riêng qua việc sử dụng ngôn ngữ, xây dựng chi tiết và giọng điệu kể chuyện. Đoạn trích không chỉ là lời ca ngợi những giá trị truyền thống mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về sự yêu thương, trân trọng những người thân yêu xung quanh chúng ta, đặc biệt là những người đã sinh thành và dưỡng dục.
Cô mong rằng qua bài phân tích này, các em không chỉ hiểu sâu hơn về tác phẩm mà còn rút ra được những bài học quý giá về tình cảm gia đình, để mỗi chúng ta đều biết trân quý và thể hiện lòng hiếu thảo của mình mỗi ngày.
Đoạn trích trong truyện ngắn “Hiu hiu gió bấc” của Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa một cách chân thực và xúc động hình ảnh những con người lao động nghèo nơi xóm nhỏ ven thành phố, qua đó làm nổi bật chủ đề về tình cảm gia đình, đặc biệt là tình phụ tử sâu nặng. Nổi bật trong đoạn trích là hình ảnh anh Hết – một người con hiếu thảo, giàu tình yêu thương – đồng thời là hình ảnh người cha già với những nét tính cách rất đời thường nhưng đầy xúc động.
Đoạn trích thể hiện sâu sắc chủ đề ca ngợi tình cảm gia đình thiêng liêng, giản dị mà bền chặt. Trong hoàn cảnh khó khăn, anh Hết vẫn ngày ngày đi làm thuê, làm mướn để mưu sinh nhưng không hề than vãn. Điều đáng quý hơn cả là sau những giờ lao động vất vả, anh vẫn tận tụy chăm sóc cha già. Những chi tiết như “lụi hụi chui vô bếp nấu cơm, giặt giũ”, hay việc ngồi chờ cha về mới ăn cơm để “mâm cơm có ấm cúng” đã cho thấy tấm lòng hiếu thảo chân thành, mộc mạc. Đặc biệt, hành động nhường phần ngon cho cha, còn mình ăn phần xương xẩu càng làm nổi bật sự hi sinh thầm lặng. Tình cảm ấy không phô trương mà thấm đẫm trong từng việc làm nhỏ bé, khiến người đọc không khỏi xúc động.
Bên cạnh anh Hết, nhân vật người tía cũng được xây dựng rất sinh động, góp phần làm nổi bật hơn chủ đề tác phẩm. Người tía đã ngoài bảy mươi, có phần khó tính, lãng tai nhưng vẫn còn khỏe khoắn, “sỏi lắm”. Những nét tính cách ấy khiến nhân vật trở nên chân thực, gần gũi như bao người già trong cuộc sống. Có lúc ông cộc cằn, thậm chí “xách gậy rượt đánh” con, nhưng đằng sau đó lại là nét hồn nhiên, đáng yêu của tuổi già, làm cho câu chuyện vừa cảm động vừa có chút hóm hỉnh.
Qua dòng hồi ức, người tía hiện lên là một người cha giàu đức hi sinh và tình yêu thương. Ông một mình nuôi con khôn lớn sau khi vợ mất sớm, không đi bước nữa. Hình ảnh ông vừa đưa võng, vừa nấu cháo, vừa cất tiếng hát ru con đã khắc họa rõ nét sự tần tảo, nhọc nhằn. Lời hát ru “Cây khô đâu dễ mọc chồi” không chỉ là câu hát quen thuộc mà còn chứa đựng nỗi lo toan, vất vả của người cha. Chính tình yêu thương ấy đã trở thành ký ức sâu sắc trong lòng anh Hết, để rồi khi trưởng thành, anh tiếp nối bằng sự hiếu thảo hết lòng. Như vậy, tình phụ tử trong đoạn trích không chỉ là sự hi sinh một chiều mà là sự tiếp nối, kế thừa qua thời gian.
Ở hiện tại, người tía tuy đã già nhưng vẫn giữ những nét cá tính riêng. Có lúc ông tự ăn cơm cháy đến nghẹn, có lúc lại chạy rượt con quanh gốc me già. Những chi tiết ấy vừa gợi sự xót xa, vừa tạo nên nét sinh động cho câu chuyện. Đồng thời, chúng cũng làm nổi bật hơn tình cảm của anh Hết – một người con luôn nhẫn nhịn, yêu thương và chăm sóc cha hết lòng.
Không chỉ thành công về nội dung, đoạn trích còn gây ấn tượng bởi những nét đặc sắc về nghệ thuật. Tác giả xây dựng nhân vật chủ yếu thông qua hành động và chi tiết đời thường. Không cần những lời ca ngợi trực tiếp, hình ảnh anh Hết và người tía vẫn hiện lên rõ nét qua những việc làm giản dị như nấu cơm, chờ đợi, chăm sóc, hay những khoảnh khắc đùa nghịch đầy tình cảm. Chính những chi tiết ấy đã tạo nên sức gợi lớn, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn nhân vật.
Ngôn ngữ trong đoạn trích mang đậm màu sắc Nam Bộ, mộc mạc, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày. Cách xưng hô “tía”, “má”, cùng giọng kể chân chất tạo nên sự gần gũi, thân tình. Bên cạnh đó, tác giả còn kết hợp hài hòa giữa chất trữ tình và chất hiện thực, giữa yếu tố cảm động và yếu tố hóm hỉnh, làm cho câu chuyện vừa chân thực vừa giàu cảm xúc.
Bằng lối kể chuyện giản dị, ngôn ngữ đời thường và cách xây dựng nhân vật tinh tế, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa thành công hình ảnh người con hiếu thảo và người cha già giàu tình yêu thương. Đoạn trích không chỉ làm nổi bật vẻ đẹp của tình phụ tử mà còn để lại trong lòng người đọc những dư âm sâu lắng về giá trị bền vững của tình cảm gia đình trong cuộc sống.

Trợ Lý Xưởng In Thiên Nam
Add comment