Còm cõi vai gầy gánh nặng
Sương trắng mùa đông ngõ vắng
Quét hoài không hết lá k…
Sương trắng mùa đông ngõ vắng
Quét hoài không hết lá khô ….
Ôi những con đường hẹp ngày xưa
Cùng ruộng nhỏ ao con bó luôn tầm mắt
Khiến lòng người nhiều khi cũng chật ….
Ta dựng ngày mai rộng biển lúa vằng
Bước đi dài đường phải thênh thằng
Vui mở với đời ta như trời rộng .
(Trích Những con đường, Lưu Quang Vũ¹, Lưu Quang Vũ thơ và đời, NXB Văn hóa – Thông tin, 1999, tr. 92-93)
**Thực hiện các yêu cầu:**
Câu 1. Xác định thể thơ của đoạn trích.
Câu 1. Xác định thể thơ của đoạn trích.
Để xác định thể thơ của đoạn trích này, chúng ta cần xem xét những đặc điểm về hình thức như số câu, số chữ trong mỗi câu, cách gieo vần, nhịp điệu.
Quan sát đoạn trích:
Còm cõi vai gầy gánh nặng
Sương trắng mùa đông ngõ vắng
Quét hoài không hết lá khô ….
Ôi những con đường hẹp ngày xưa
Cùng ruộng nhỏ ao con bó luôn tầm mắt
Khiến lòng người nhiều khi cũng chật ….
Ta dựng ngày mai rộng biển lúa vằng
Bước đi dài đường phải thênh thằng
Vui mở với đời ta như trời rộng .
Chúng ta thấy rằng:
- Số câu: Đoạn trích có 9 câu.
- Số chữ trong mỗi câu: Số chữ trong mỗi câu không cố định. Có câu 5 chữ (vd: “Sương trắng mùa đông ngõ vắng”), có câu 6 chữ (vd: “Còm cõi vai gầy gánh nặng”), có câu 7 chữ (vd: “Ôi những con đường hẹp ngày xưa”), có câu 8 chữ (vd: “Cùng ruộng nhỏ ao con bó luôn tầm mắt”), có câu 9 chữ (vd: “Khiến lòng người nhiều khi cũng chật ….”).
- Cách gieo vần: Vần được gieo xen kẽ, không theo một quy tắc chặt chẽ như thơ thất ngôn bát cú hay lục bát. Tuy nhiên, ta nhận thấy có sự liên kết về vần ở cuối các câu. Ví dụ: “nặng” – “vắng” – “khô” (vần “ăng”, “ô” không liên kết trực tiếp nhưng có sự ngắt nhịp tạo âm hưởng); “xưa” – “mắt” – “chật” (vần “ưa”, “at”, “ât” không đồng nhất); “vằng” – “thằng” – “rộng” (vần “ăng”, “ông” có sự tương đồng về âm).
- Nhịp điệu: Nhịp điệu không đều đặn, linh hoạt, uyển chuyển, thể hiện sự tự do trong biểu đạt cảm xúc.
Với những đặc điểm trên, đây là thể thơ tự do. Thơ tự do là thể thơ không bị ràng buộc bởi số chữ trong mỗi câu, số câu trong bài, cách gieo vần và niêm luật chặt chẽ như các thể thơ truyền thống. Nhà thơ có thể thoải mái biến tấu về hình thức để diễn tả trọn vẹn nhất cảm xúc và ý tưởng của mình.
Kết luận: Thể thơ của đoạn trích là thơ tự do.
\(#DAnh\)
Câu \(1.\)
\(-\) Thể thơ : Thơ tự do.
\(⇒\) Văn bản không có sự ràng buộc bởi các quy tắc nhất định về số dòng, số chữ, niêm luật, vần nhịp, …
Câu \(2.\)
\(-\) Những hình ảnh gắn liền với làng quê được tác giả nhắc đến trong khổ thơ thứ nhất của đoạn trích là :
\(+\) “vai gầy”
\(+\) “sương trắng”
\(+\) “ngõ vắng”
\(+\) “lá khô”
Câu \(3.\)
“Xưa xóm nghèo mái rạ chen nhau
Gồ ghề lối hẹp
Hun hút bờ tre gió rét
Mưa dầm lầy lội bùn trơn. “
\(-\) Những từ láy được sử dụng trong đoạn thơ trên là :
\(+\) gồ ghề.
\(+\) hun hút.
\(+\) lần lội.
\(-\) Tác dụng :
\(+\) Về giá trị gợi hình : Nhấn mạnh và làm nổi bật lên được bức tranh quang cảnh nơi làng quê khắc nghiệt, lam lũ và nghèo khó trong tiềm thức hồi tưởng của nhân vật trữ tình. Mảnh đấy ấy với những thiếu thốn, khó khăn – đường sá chật hẹp, lầy lội, không gian tiêu điều, heo hút – đã trở thành cái nhọc nhằn, thách thức của người dân quê xưa.
\(+\) Về giá trị gợi cảm : Bộc bạch, thổ bày tình yêu quê hương, niềm nỗi nhớ nhung, sự xót xa và thương cảm sâu nặng, da diết của nhân vật trữ tình khi hoài niệm, hồi tưởng về quê nhà. Qua đó, thấy được khát vọng tái thiết và dựng xây quê hương ngày một tốt đẹp, giàu mạnh và phát triển của nhà thơ.
Câu \(4.\)
\(-\) Khi hướng về quê hương, nhân vật trữ tình đã kí thác và gửi gắm những cung bậc cảm xúc sâu sắc của mình. Trước hết, đó là tình yêu, là sự gắn bó, biết ơn và trân trọng tha thiết ông dành cho quê nhà, cho những sự vật, hình ảnh vốn hết đỗi mộc mạc, gần gũi và thân thương. Đây cũng chính là nền tảng hình thành nên nỗi nhớ, để hình ảnh quê xưa trở thành đối tượng xuất hiện trong dòng hoài niệm, hồi tưởng của nhân vật trữ tình. Qua những kí ức kỉ niệm, cái tôi ấy trực trào niềm đau xót, trăn trở và thương cảm sâu nặng trước những gian truân, cơ cực của quê hương. Từ đó, ấp ủ và nuôi dưỡng trong mình khát vọng tái thiết và dựng xây quê hương ngày một tốt đẹp, giàu mạnh và phát triển hơn.
Câu \(5.\)
“Ta dựng ngày mai rộng biển lúa vàng
Bước đi dài đường phải thênh thang. “
\(-\) Khát vọng được tác giả kí thác và gửi gắm trong bài thơ đã khơi dậy trong em những suy tư và chiêm nghiệm sâu sắc về ý nghĩa của niềm tin và khát vọng trong việc kiến tạo tương lai. Trước hết, đối với niềm tin, đó là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất để con người ta đón nhận cuộc sống bằng lăng kính lạc quan, luôn hướng mình tới những điều tốt đẹp. Đây đồng thời cũng là kim chỉ nam định hướng giúp con người ta thoát khỏi cái tù túng, bế tắc, tiêu cực, để trở thành nguồn động lực mạnh mẽ tiếp thêm sức mạnh vươn lên, thắp lên hi vọng, nghị lực sống cho con người. Nếu không có nấy một khát vọng, một ước mơ, ta trở nên vô định, mất phương hướng, không còn động lực vượt qua nghịch cảnh, gian truân. Khát vọng chính là sản phẩm kết tinh từ niềm tin, nhờ có niềm tin mà ta dám mơ, dám khát vọng. Và cũng chính nhờ khát vọng, ta dám hành động vì một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn, vì những hoài bão còn đang dang dở trên hành trình được hiện thực hóa.

Trợ Lý Xưởng In Thiên Nam
Add comment