ĐỀ 1: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu
(1) Bây giờ, Đất Mũi đang mùa gi…
(1) Bây giờ, Đất Mũi đang mùa gió chướng. Coi ra thì người xóm Mũi sướng nhất đời rồi, ngọn Nam, ngọn chướng về, xóm Mũi là nơi đón, thưởng thức trước tiên. Em tôi muốn mời anh về ngay mùa này, lúc đất chuyển vào xuân. Gió mùa phây phẩy, gió đưa trời lộng lên cao, phù sa bắt đầu nôn nả lấn biển, rồi không lâu lắm đâu, từ bãi bồi, đất sẽ cồn lên, một rừng mắm xanh non rào rạt tiến về phía trước giữ đất lại cho người. Mùa này, ba khía chuẩn bị vào hội; không biết hẹn hò nhau từ hồi nào, ba khía tụm về xúm xít đeo trên gốc mắm, rễ đước. Con nào con nấy thịt chắc nụi, gạch ứ đầy mai…
Cũng mùa này, bắt đầu con nước rông, cây đước nhón cái rễ như cái nơm cao lên đến nửa thân cây, những cái rễ mới thò xuống từ trong tán lá rừng xanh biếc. Nước tràn bờ bãi, người xóm Mũi bắt đầu cuộc sống rặt trên sàn. Những cây đước lót sít sao nhau để làm lối vào nhà, lối qua bên hàng xóm, lối ra nhà tắm, chuồng gà. Trẻ con chạy rượt, u hơi ở trên sàn, nhảy lò cò bên những bụi hẹ, bụi ớt lơ thơ trồng trong thúng. Cá thòi lòi dạn dĩ theo con nước chạy rột rẹt dưới sàn nhà, có lúc ngóc đầu lên, nhìn thom lom, ý hỏi ai đây ta, ai mà lặn lội tới xứ bùn sình rừng rú này, ai mà ngó tui thiếu điều lòi con mắt ra, lạ lắm sao?
(2) Lạ lắm, nếu anh đến, thể nào anh cũng bảo cái mũi đất cùng trời cuối đất này sao mà lạ quá đi? Lạ chớ, em tôi cười, lạ từ cái cây, ngọn cỏ,… Em tôi hỏi anh đã từng thấy nụ bông đậu cộ tím biêng biếc như những chiếc giày cao cổ (em bảo chắc như đinh đóng cột rằng hầu hết hoa dại ở xứ tôi đều có màu tím thủy chung), anh đã thấy những bông vẹt cứng cỏi xòe chơm chởm như cái nơm cá, bao giờ kết trái, hoa lại trở thành chiếc ô che đầu, rồi những trái quao mới sinh ra đã cong cong… Và còn những trái đước quê tôi, anh đã biết? Từ khi còn là trái xanh lủng lẳng trên thân cây mẹ, trái đước đã thẳng người trong tư thế một ngày cắm thẳng xuống bãi bùn mà không mảy may nghi ngờ, chọn lựa.[…]
(3) Tôi vẫn không từ bỏ câu nói của mình rằng Đất Mũi thường thôi, rất thường, nhưng hết thảy mọi thứ ở đây đều làm cho người ta nhớ vì lạ, vì thương. Bầy dã tràng xe những hòn cát liu riu nằm trên bãi Khai Long, những bông rau muống biển mỏng tang mà chống chọi với gió trời, rập rờn tím ngát. Hòn Khoai thì xanh thẳm ngoài kia với ngọn hải đăng chưa bao giờ tắt. Dường như mọi thứ ở đây đều thắm và đậm. Nắng thì lầm lì thôi là lầm lì, gió cởi mở thôi là cởi mở. Rừng đã xanh là xanh lặc lìa, một màu rời rợi. Biển đã đục là ngầu ngầu phù sa. Nước đã mặn là mặn quéo đầu lưỡi. Người Đất Mũi rặt đã thương là thương trọn, đã nhớ thì nhớ sâu, đã sầu thì sầu dai dẳng. Hết thảy đều không thể nửa vời. Cho nên khi anh về, đừng có từ chối mà không cạn từng ly rượu đế cay xè, cũng đừng trả giá nửa ly thôi, làm lòng bà con mình buồn nghen. Mà, anh dứt khoát phải gặp em tôi một lần, cô có tất cả đặc trưng của người Đất Mũi, da ngăm ngăm, rắn rỏi, mắt hay cười, em hay hồn nhiên xắn quần cao đến khỏi đầu gối lội qua kinh những lúc nước ròng, mộc mạc không giả đò mắc cỡ làm duyên…
(Trích Đất Mũi mù xa, Nguyễn Ngọc Tư, in trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ, TP.HCM, 2020)
Câu 1. Xác định đề tài của văn bản? (0,5 điểm)
Câu 2. Những loài cây đặc trưng nào của vùng Đất Mũi được tác giả nói tới trong đoạn (1) của văn bản? (0,5 điểm)
Câu 3. Dựa vào đoạn (3) của văn bản, hãy cho biết con người ở vùng Đất Mũi có đặc điểm gì nổi bật? (0,5 điểm)
Câu 4. Xác định nội dung chính của mỗi phần trong văn bản “Đất Mũi mù xa”? (0,5 điểm)
Câu 5. Cái “tôi” tác giả trong văn bản thể hiện tình cảm, cảm xúc gì đối với Đất Mũi? Hãy dẫn ra một số câu văn thể hiện tình cảm, cảm xúc ấy? (0,5 điểm)
Câu 6. Phân tích sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình được thể hiện trong văn bản? (1,0 điểm)
Câu 7. Đặc điểm nào về thiên nhiên hoặc con người Đất Mũi để lại cho anh/ chị ấn tượng mạnh nhất? Vì sao? (1,0 điểm)
Câu 8. Văn bản “Đất Mũi mù xa” gợi lên trong lòng anh/ chị suy nghĩ gì về tình cảm của bản thân đối với quê hương, đất nước? (Viết khoảng 8 – 10 dòng). (1,5 điểm)
giải theo barem của sở long an
Câu 1. Xác định đề tài của văn bản? (0,5 điểm)
Yêu cầu: Xác định đúng đề tài của văn bản.
Barem:
0.5 điểm: Xác định đúng đề tài là vùng Đất Mũi, thiên nhiên và con người nơi đây.
0 điểm: Xác định sai hoặc không xác định.
Lời giải chi tiết:
Dựa vào nhan đề “Đất Mũi mù xa” và nội dung xuyên suốt của văn bản, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy đề tài của văn bản này là vùng Đất Mũi, đặc biệt là bức tranh thiên nhiên và con người nơi đây.
Câu 2. Những loài cây đặc trưng nào của vùng Đất Mũi được tác giả nói tới trong đoạn (1) của văn bản? (0,5 điểm)
Yêu cầu: Kể tên được các loài cây đặc trưng trong đoạn (1).
Barem:
0.5 điểm: Kể tên chính xác mắm và đước.
0 điểm: Kể tên sai hoặc thiếu.
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn (1), tác giả đã nhắc đến những loài cây đặc trưng của vùng Đất Mũi như sau: cây mắm (được nhắc đến với việc phù sa lấn biển, đất cồn lên, rừng mắm xanh non giữ đất) và cây đước (được miêu tả với hình ảnh nhón rễ cao lên như cái nơm, những cái rễ mới thò xuống từ tán lá rừng).
Câu 3. Dựa vào đoạn (3) của văn bản, hãy cho biết con người ở vùng Đất Mũi có đặc điểm gì nổi bật? (0,5 điểm)
Yêu cầu: Nêu được những đặc điểm nổi bật của con người Đất Mũi dựa vào đoạn (3).
Barem:
0.5 điểm: Nêu được các đặc điểm như: yêu thương trọn vẹn, nhớ sâu, sầu dai dẳng (không nửa vời), có sự mộc mạc, chân thật, hồn nhiên (qua hình ảnh người em gái).
0.25 điểm: Nêu được một vài đặc điểm nhưng chưa đầy đủ.
0 điểm: Không nêu được hoặc nêu sai.
Lời giải chi tiết:
Dựa vào đoạn (3), chúng ta thấy con người ở vùng Đất Mũi có những đặc điểm nổi bật sau:
- Tình cảm sâu sắc, không nửa vời: “Người Đất Mũi rặt đã thương là thương trọn, đã nhớ thì nhớ sâu, đã sầu thì sầu dai dẳng. Hết thảy đều không thể nửa vời.” Điều này thể hiện sự chân thành, mãnh liệt trong cảm xúc của họ.
- Mộc mạc, chân thật, hồn nhiên: Qua hình ảnh người em gái được miêu tả: “da ngăm ngăm, rắn rỏi, mắt hay cười, em hay hồn nhiên xắn quần cao đến khỏi đầu gối lội qua kinh những lúc nước ròng, mộc mạc không giả đò mắc cỡ làm duyên…”. Điều này cho thấy họ sống rất thật với bản thân, không câu nệ hình thức.
- Hiếu khách, chân thành: Lời dặn dò “đừng có từ chối mà không cạn từng ly rượu đế cay xè, cũng đừng trả giá nửa ly thôi, làm lòng bà con mình buồn nghen” thể hiện sự hiếu khách và mong muốn chia sẻ, gắn kết với mọi người.
Câu 4. Xác định nội dung chính của mỗi phần trong văn bản “Đất Mũi mù xa”? (0,5 điểm)
Yêu cầu: Nêu được nội dung chính của từng đoạn văn.
Barem:
0.5 điểm: Xác định đúng nội dung chính của cả ba đoạn.
0.25 điểm: Xác định đúng nội dung chính của 1-2 đoạn.
0 điểm: Xác định sai hoặc không xác định.
Lời giải chi tiết:
Văn bản “Đất Mũi mù xa” được chia thành ba phần, mỗi phần có nội dung chính như sau:
- Đoạn (1): Miêu tả bức tranh thiên nhiên mùa gió chướng ở Đất Mũi với những đặc trưng như gió mùa, phù sa lấn biển, sự sinh sôi của rừng mắm, mùa ba khía, và cuộc sống đặc biệt trên sàn của người dân khi nước ròng.
- Đoạn (2): Khẳng định sự “lạ” của Đất Mũi qua những nét độc đáo của các loài thực vật (hoa đậu cộ, hoa vẹt, trái quao, trái đước) với những màu sắc và hình dáng riêng biệt, thể hiện sức sống mãnh liệt và nét đặc trưng của vùng đất này.
- Đoạn (3): Tái hiện những nét đặc trưng của thiên nhiên (bãi Khai Long, rau muống biển, Hòn Khoai, nắng, gió, rừng, biển, nước) và con người Đất Mũi (yêu thương, nhớ nhung, sầu dai dẳng, mộc mạc, chân thành, hiếu khách), từ đó khắc họa nên một Đất Mũi tuy “thường” nhưng đầy sức hút và đáng nhớ.
Câu 5. Cái “tôi” tác giả trong văn bản thể hiện tình cảm, cảm xúc gì đối với Đất Mũi? Hãy dẫn ra một số câu văn thể hiện tình cảm, cảm xúc ấy? (0,5 điểm)
Yêu cầu: Nêu được tình cảm của tác giả và dẫn chứng cụ thể.
Barem:
0.5 điểm: Nêu được tình cảm yêu mến, gắn bó, tự hào và dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu.
0.25 điểm: Nêu được tình cảm nhưng dẫn chứng chưa rõ hoặc thiếu.
0 điểm: Không nêu được hoặc nêu sai.
Lời giải chi tiết:
Trong văn bản, cái “tôi” tác giả thể hiện tình cảm yêu mến, gắn bó sâu sắc, niềm tự hào và sự trân trọng đối với vùng Đất Mũi.
Những câu văn thể hiện tình cảm ấy:
- “Coi ra thì người xóm Mũi sướng nhất đời rồi…” (thể hiện sự thích thú, ngưỡng mộ)
- “Em tôi muốn mời anh về ngay mùa này, lúc đất chuyển vào xuân.” (thể hiện mong muốn chia sẻ vẻ đẹp của quê hương)
- “Tôi vẫn không từ bỏ câu nói của mình rằng Đất Mũi thường thôi, rất thường, nhưng hết thảy mọi thứ ở đây đều làm cho người ta nhớ vì lạ, vì thương.” (thể hiện sự yêu thương, trân trọng những điều bình dị mà sâu lắng)
- “Dường như mọi thứ ở đây đều thắm và đậm.” (cảm nhận sâu sắc về thiên nhiên và con người)
- “Người Đất Mũi rặt đã thương là thương trọn, đã nhớ thì nhớ sâu, đã sầu thì sầu dai dẳng. Hết thảy đều không thể nửa vời. Cho nên khi anh về, đừng có từ chối mà không cạn từng ly rượu đế cay xè, cũng đừng trả giá nửa ly thôi, làm lòng bà con mình buồn nghen.” (thể hiện sự đồng cảm, yêu quý và hiểu rõ tính cách con người Đất Mũi)
Câu 6. Phân tích sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình được thể hiện trong văn bản? (1,0 điểm)
Yêu cầu: Chỉ ra và phân tích cách kết hợp tự sự và trữ tình.
Barem:
1.0 điểm: Phân tích rõ ràng, có dẫn chứng về sự kết hợp giữa yếu tố tự sự (kể, tả) và trữ tình (bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ cá nhân), làm nổi bật vẻ đẹp và tình cảm của tác giả đối với Đất Mũi.
0.5 – 0.75 điểm: Phân tích được một trong hai yếu tố hoặc phân tích chung chung, ít dẫn chứng.
0.25 điểm: Chỉ nêu được khái niệm hoặc một vài ví dụ.
0 điểm: Không phân tích hoặc phân tích sai.
Lời giải chi tiết:
Văn bản “Đất Mũi mù xa” là một bài tùy bút giàu cảm xúc, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố tự sự và trữ tình. Chính sự kết hợp này đã tạo nên sức hấp dẫn và chiều sâu cho tác phẩm.
1. Yếu tố tự sự:
Yếu tố tự sự được thể hiện qua việc tác giả kể lại những quan sát, trải nghiệm và suy nghĩ của mình về Đất Mũi. Đó là những lời mời gọi của em trai, là những miêu tả cụ thể về cảnh vật, con người, tập quán sinh hoạt.
- Kể về mùa vụ và đời sống: Tác giả kể về mùa gió chướng, mùa phù sa, mùa ba khía, mùa nước ròng. Miêu tả cách người dân Đất Mũi sống trên sàn, cách trẻ con chơi đùa, cách cá thòi lòi xuất hiện.
- Miêu tả cảnh vật: Tác giả tả cảnh rừng mắm xanh non, cây đước nhón rễ, hoa đậu cộ tím biếc, bông vẹt xòe ra, trái quao cong cong, trái đước thẳng tắp. Miêu tả bãi Khai Long, rau muống biển, Hòn Khoai, ngọn hải đăng.
- Tái hiện hình ảnh con người: Tác giả khắc họa hình ảnh người em gái mộc mạc, rắn rỏi, hay cười, hồn nhiên.
Những yếu tố tự sự này giúp người đọc hình dung rõ nét về Đất Mũi, về không gian, thời gian và những gì diễn ra nơi đây. Nó tạo nên một bức tranh chân thực, sống động.
2. Yếu tố trữ tình:
Yếu tố trữ tình được thể hiện xuyên suốt qua giọng điệu tâm tình, bộc lộ trực tiếp hoặc gián tiếp những suy tư, cảm xúc, tình cảm sâu lắng của tác giả đối với Đất Mũi.
- Lời mời gọi chân thành: “Em tôi muốn mời anh về ngay mùa này, lúc đất chuyển vào xuân.” – Lời mời gọi chứa đựng sự mong muốn chia sẻ vẻ đẹp quê hương.
- Những cảm nhận tinh tế: “Coi ra thì người xóm Mũi sướng nhất đời rồi” – cách cảm nhận đầy yêu mến. “hết thảy mọi thứ ở đây đều làm cho người ta nhớ vì lạ, vì thương.” – sự đúc kết đầy rung động về Đất Mũi. “Dường như mọi thứ ở đây đều thắm và đậm.” – cảm nhận về sự nồng nàn, sâu sắc.
- Sự đồng cảm, thấu hiểu: “Người Đất Mũi rặt đã thương là thương trọn, đã nhớ thì nhớ sâu, đã sầu thì sầu dai dẳng. Hết thảy đều không thể nửa vời.” – Tác giả thấu hiểu và đồng cảm với tính cách đặc trưng của người dân quê mình.
- Nỗi nhớ, tình yêu quê hương: Dù không trực tiếp nói lời yêu thương, nhưng qua cách miêu tả, qua giọng văn, tình cảm yêu mến, tự hào, nỗi nhớ da diết về Đất Mũi luôn hiện hữu.
Sự kết hợp này tạo nên một giọng văn tự nhiên, gần gũi, chân thành, lay động lòng người. Yếu tố trữ tình giúp lời kể, lời tả không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà còn truyền tải được tâm hồn, tình cảm của tác giả, khiến Đất Mũi hiện lên không chỉ là một địa danh mà còn là một phần máu thịt, một nỗi niềm.
Ví dụ, khi miêu tả cây đước nhón rễ, tác giả không chỉ đơn thuần tả hình ảnh mà còn gợi lên sự kiên cường, thích nghi với môi trường của loài cây này, đồng thời có thể ẩn chứa sự liên tưởng đến con người Đất Mũi.
Tóm lại, sự kết hợp hài hòa giữa tự sự và trữ tình đã làm nên nét đặc sắc của “Đất Mũi mù xa”, giúp tác phẩm vừa cung cấp những thông tin, hình ảnh cụ thể, vừa bộc lộ những rung động sâu sắc của tâm hồn tác giả, khắc họa một bức tranh Đất Mũi vừa chân thực, vừa thơ mộng, giàu tình người.
Câu 7. Đặc điểm nào về thiên nhiên hoặc con người Đất Mũi để lại cho anh/chị ấn tượng mạnh nhất? Vì sao? (1,0 điểm)
Yêu cầu: Chọn một đặc điểm và giải thích vì sao ấn tượng.
Barem:
1.0 điểm: Chọn được một đặc điểm nổi bật (thiên nhiên hoặc con người), lý giải sâu sắc, có cảm xúc, dẫn chứng cụ thể từ văn bản hoặc suy nghĩ cá nhân.
0.75 điểm: Chọn được đặc điểm, lý giải tương đối, có dẫn chứng.
0.5 điểm: Chọn được đặc điểm nhưng lý giải còn chung chung, thiếu dẫn chứng.
0.25 điểm: Chỉ nêu được đặc điểm.
0 điểm: Không trả lời hoặc trả lời sai.
Lời giải tham khảo (có thể thay đổi tùy theo cảm nhận cá nhân của học sinh):
Trong số những đặc điểm về thiên nhiên và con người Đất Mũi mà tác giả Nguyễn Ngọc Tư miêu tả, đặc điểm về sự “thắm và đậm” trong tình cảm của con người nơi đây đã để lại cho em ấn tượng mạnh mẽ nhất.
Tác giả viết: “Người Đất Mũi rặt đã thương là thương trọn, đã nhớ thì nhớ sâu, đã sầu thì sầu dai dẳng. Hết thảy đều không thể nửa vời.” Câu văn này không chỉ đơn thuần là lời nhận xét mà còn là sự thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc của tác giả về bản chất tâm hồn người dân Đất Mũi. Điều này khiến em cảm thấy kính phục và xúc động. Trong cuộc sống hiện đại, đôi khi con người có xu hướng sống “vô cảm”, “nửa vời” trong các mối quan hệ. Nhưng ở Đất Mũi, tình cảm được vun đắp một cách trọn vẹn, chân thành và mãnh liệt. Sự “thương trọn”, “nhớ sâu”, “sầu dai dẳng” cho thấy một tâm hồn giàu cảm xúc, một lối sống hết mình, không vụ lợi.
Em tin rằng, sự chân thành và sâu sắc trong tình cảm đó là một giá trị quý báu, là sợi dây gắn kết cộng đồng, giúp người dân nơi đây vượt qua khó khăn, gắn bó với quê hương. Hình ảnh người em gái “mắt hay cười”, “hồn nhiên xắn quần lội kinh” cũng phần nào phản ánh sự hồn hậu, tình cảm nồng ấm, dễ gần của người dân Đất Mũi.
Chính vì vậy, sự chân thành, mãnh liệt và trọn vẹn trong tình cảm của con người Đất Mũi đã để lại cho em một ấn tượng sâu sắc và đáng ngưỡng mộ.
Câu 8. Văn bản “Đất Mũi mù xa” gợi lên trong lòng anh/chị suy nghĩ gì về tình cảm của bản thân đối với quê hương, đất nước? (Viết khoảng 8 – 10 dòng). (1,5 điểm)
Yêu cầu: Viết đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về tình cảm quê hương, đất nước.
Barem:
1.5 điểm: Bài viết thể hiện rõ suy nghĩ cá nhân, có sự liên hệ với văn bản, cảm xúc chân thành, ngôn ngữ trong sáng, bố cục rõ ràng, đảm bảo độ dài yêu cầu.
1.0 – 1.25 điểm: Bài viết có ý, có cảm xúc, có liên hệ văn bản nhưng chưa sâu sắc hoặc chưa đảm bảo yêu cầu về độ dài.
0.5 – 0.75 điểm: Bài viết còn chung chung, ít cảm xúc, liên hệ văn bản còn yếu.
0.25 điểm: Bài viết có ý nhưng sơ sài, chưa đủ.
0 điểm: Không viết hoặc viết sai yêu cầu.
Định hướng gợi ý:
Khi đọc “Đất Mũi mù xa”, em cảm thấy lòng mình dâng lên một tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc và mới mẻ.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa Đất Mũi với những nét đặc trưng rất riêng, có thể bình dị, có thể lạ lẫm, nhưng qua ngòi bút của bà, tất cả đều trở nên thân thương, đáng trân trọng.
Em nhận ra rằng, quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là nơi chứa đựng những giá trị văn hóa, con người độc đáo.
Văn bản cho thấy dù ở đâu, dù hoàn cảnh nào, tình yêu và sự gắn bó với quê hương, đất nước luôn là một mạch nguồn chảy trong tim mỗi người.
Hình ảnh con người Đất Mũi với tình cảm “thương trọn, nhớ sâu”, sự mộc mạc, chân thành đã thôi thúc em phải biết trân trọng những gì mình đang có, sống hết mình và luôn giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.
Em càng thêm yêu quý mảnh đất hình chữ S này, yêu quý những nét đẹp đa dạng, phong phú của từng vùng miền.
Bài học về sự “thắm và đậm” trong tình cảm của người Đất Mũi cũng nhắc nhở em về trách nhiệm của bản thân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Em hứa sẽ luôn yêu thương, gìn giữ và đóng góp sức mình cho sự phát triển của quê hương, đất nước.
Ví dụ bài viết tham khảo (khoảng 8-10 dòng):
Đọc “Đất Mũi mù xa”, em cảm thấy lòng mình dâng lên một tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc và mới mẻ. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa Đất Mũi với những nét đặc trưng rất riêng, từ thiên nhiên hoang sơ đến con người chân thành, giàu cảm xúc. Em nhận ra rằng, quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là nơi chứa đựng những giá trị văn hóa, con người độc đáo mà chúng ta cần trân trọng. Bài văn cho thấy, dù ở nơi đâu, tình yêu và sự gắn bó với quê hương, đất nước luôn là một mạch nguồn chảy trong tim mỗi người. Em học được từ những người dân Đất Mũi sự chân thành, tình cảm “thương trọn, nhớ sâu”, điều đó nhắc nhở em phải sống hết mình và biết ơn những gì mình đang có. Em càng thêm yêu quý mảnh đất hình chữ S này với những nét đẹp đa dạng, phong phú của từng vùng miền, và nguyện sẽ đóng góp sức mình cho sự phát triển của quê hương, đất nước.
Các em thấy đó, bài văn “Đất Mũi mù xa” không chỉ cho chúng ta thấy vẻ đẹp của một vùng đất xa xôi mà còn giúp chúng ta nhìn lại và bồi đắp thêm tình yêu quê hương, đất nước trong chính trái tim mình. Cô hy vọng các em sẽ luôn giữ mãi ngọn lửa tình yêu đó nhé!
Câu \(1.\)
\(-\) Đề tài: Thiên nhiên và con người vùng đất Mũi
Câu \(2.\)
\(-\) Những loài cây đặc trưng của vùng đất Mũi trong đoạn văn \((1)\): Cây mắm, cây đước
Câu \(3.\)
\(-\) Đặc điểm nổi bật của con người vùng đất Mũi qua đoạn \((3)\):
\(+\) Con người đất Mũi sống ngay thẳng, đậm sâu, chân thành, hiếu khách và mộc mạc
(“Người Đất Mũi rặt đã thương là thương trọn, đã nhớ thì nhớ sâu, đã sầu thì sầu dai dẳng. Hết thảy đều không thể nửa vời.”)
Câu \(4.\)
\(-\) Nội dung chính của mỗi phần trong văn bản
\(+\) Phần \(1\): Bức tranh thiên nhiên và nhịp sống sinh hoạt rộn ràng, độc đáo của người dân xóm Mũi khi vào mùa gió chướng
\(+\) Phần \(2\): Sự ngạc nhiên, thích thú trước vẻ đẹp kỳ lạ, đặc biệt của các loài hoa dại, cây cối nơi cuối trời Tổ quốc
\(+\) Phần \(3\): Những nét dung dị của cảnh vật và sự chân thành, mộc mạc của người Đất Mũi
Câu \(5.\)
\(-\) Cái “tôi” của tác giả thể hiện sự am hiểu, gắn bó thiết tha, niềm tự hào và tình yêu thương sâu sắc, trân trọng đối với từng tấc đất, nhành cây và con người xứ Đất Mũi
\(-\) Dẫn chứng
\(+\) “Tôi vẫn không từ bỏ câu nói của mình rằng Đất Mũi thường thôi, … vị thương”
\(+\) “Coi ra thì người xóm Mũi sướng nhất đời rồi…”
Câu \(6.\)
\(-\) Sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình khiến văn bản không chỉ cung cấp thông tin về vùng đất mà còn thấm đẫm chất thơ, gợi lên sự đồng cảm cũng như sự xúc động và tình yêu nước sâu sắc trong lòng người đọc.
Câu \(7.\)
\(-\) Tính cách không nửa vời của người con Đất Mũi khiến em ấn tượng nhất vì trong một xã hội đầy rẫy sự hoài nghi và hời hợt thì lối sống của người con nơi đây hiện lên thật đẹp và quý giá. Sự mộc mạc, rắn rỏi của họ khiến người ta cảm thấy ấm áp, tin tưởng vào những giá trị tình cảm nguyên bản, bền chặt
Câu \(8.\)
Văn bản “Đất Mũi mù xa” của Nguyễn Ngọc Tư đã chạm đến những rung động thiêng liêng nhất trong lòng người đọc về tình yêu quê hương, đất nước. Qua những trang văn đậm chất Nam Bộ, có thể nhận ra rằng tình yêu Tổ quốc không phải là điều gì to tát, xa vời, mà nó bắt nguồn ngay từ sự gắn bó, thấu hiểu những điều bình dị nhất xung quanh: một nhành cây, một ngọn gió, hay nét tính cách mộc mạc của những người dân lao động lam lũ. Tác phẩm khơi dậy niềm tự hào về dải đất hình chữ S, nơi mỗi vùng miền đều mang một vẻ đẹp trù phú và bản sắc riêng biệt. Đồng thời, bài viết cũng nhắc nhở thế hệ trẻ về trách nhiệm nâng niu, gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hóa, cội nguồn của dân tộc. Yêu quê hương chính là biết trân trọng hiện tại, sống chân thành, chan hòa và sẵn sàng cống hiến sức mình để xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp hơn.
@LP

Trợ Lý Xưởng In Thiên Nam
Add comment