giúp tớ với, tớ cần gấp ạ!!!( sẽ cho 5 sao bạn nào nhanh tay )
AI BIỂU XẤU
(Nguy…
AI BIỂU XẤU
(Nguyễn Ngọc Tư)
“… Bạn diễn đạt hơi thiếu biểu cảm. Giọng bạn đuối đi khi đến cao trào. Một điểm nữa là ngoại hình bạn bị hạn chế. Mà đây là thi Tiếng hát truyền hình chứ không phải tiếng hát phát thanh …”. Lời nhận xét này của một thành viên ban giám khảo cuộc thi tiếng hát truyền hình tỉnh trong đêm trung kết. Tôi thấy một chút điếng dại đi thoáng qua trên gương mặt thí sinh, khi giữa sân khấu lấp lóa ánh đèn, trước hàng ngàn người và đông đảo bạn xem truyền hình trực tiếp, anh bị chê… xấu.
Hẳn anh không muốn mình xấu. Hẳn cha mẹ anh cũng không muốn sinh con xấu. Nhưng vào cái lúc vị giám khảo đến từ thành phố văn minh kia “âu yếm” (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên) nhận xét về ngoại hình minh, anh sẽ oán giận cuộc đời, oán giận mẹ cha đã tạo ra anh giữa đời này, làm cho anh tới nông nỗi này, chết đứng trên sân khấu. Mà anh vẫn phải gượng gạo cưới, chở người ta chê xong, cảm ơn, và rời sân khấu trên đôi chân không phải của mình, gương mặt không còn là của mình, di chuyển một thần xác đã khó những máu, thân xác cũng không còn là của anh.
Tôi bỗng nghĩ mình may, phải biết hát hò, có khả năng tôi cũng đi thi. Và cái cô Hà Há Ha mang số báo danh Không Không Có cũng bị trời trong bởi “ngoại hình hạn chế” hay “tên bạn rất không hợp để làm… ca sĩ”. Bất ngờ? Không, ta vẫn biết vậy khi nhìn vào gương, khi nghĩ về mình, nhưng ta vẫn đau một cách không kiềm chế. Và ánh đèn đêm đó, vẻ mặt vô tư của vị giám khảo đó, biển người đó, bài ca đó… mãi mãi là nỗi ám ảnh không nguôi được. Chỉ muốn làm cát, làm nước, làm giun dế cho rồi…
Sao ngay từ đầu, trong thể lệ cuộc thi, người ta không đưa ra điều kiện “ngoại hình đẹp” như mấy nhà hàng vẫn thường dán thông báo tuyển tiếp viên. Nhất thiết phải dán mấy cái hình mẫu Jude Law, Lương Triều Vỹ hay Mai Phương Thúy để người ta hiểu đẹp là phải như thế này. Bởi mỗi người có một quan niệm khác nhau về cái đẹp, như tôi, lam lũ, đen đúa, bụi bặm… là đẹp, thì bạn nói bạn thích vẻ dịu dàng, thuần khiết, mỏng manh, sang trọng… Người dự thi, sau khi ngó qua tiêu chí và mấy tấm hình mẫu thì dù có giọng đẹp như Lê Dung, Tuấn Ngọc, Mỹ Linh cũng ngó lại cái “ngoại hình hạn chế” mà rút lui không nuối tiếc.
Để không phải trút tâm huyết gan ruột mình hát cả chục bài, vượt qua bốn năm vòng thi; để không nuôi chút vui, chút hy vọng, khát vọng gì khi qua mỗi ải; để không phải xót lòng nghe người đời hỏi, “Ê, sao ba má bạn đẻ bạn xấu vậy?”. Để đi qua một giấc mơ dài, chợt tỉnh bất ngờ vì bị dội vào người thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt. Tỉnh dậy, để thấy đời buồn vì những chuyện không đâu.
Cảm giác và nói ra cảm giác là hai chuyện khác nhau, một cái là của riêng mình và cái kia tác động đến người khác. Ai cũng nghĩ như vị giám khảo kia, nhưng không phải ai cũng thiếu tế nhị, thừa tàn nhẫn để thể hiện nó bằng lời, công khai giữa đám đông.
Tôi nhớ có lần, bạn bè hỏi tôi sao mà lúc này quan tâm quá nhiều tới nhan sắc. Tôi cười thẩm, ngoài miệng nói vậy thôi, chứ thật ra tôi tin là mình cùng hạn chế” chắc chắn tôi không thể thi “tiếng hát truyền hình” (nếu có giọng c có chút duyên ngầm. Nhưng tin cũng chẳng làm gì, vì tôi biết với “ngoại hình khá), không thể làm nhân viên tiếp thị (nếu chẳng còn viết văn được nữa), và nếu khó khăn hơn nữa, để nuôi dám con ăn học, tôi cũng không tìm được chân bưng bê trong quán bia.
Ai biểu xấu?!
Nguyễn Ngọc Tư, Đảo ( tập truyện ngắn), NXB Trẻ, 2014
Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể loại nào? Nêu dấu hiệu nhận biết thể loại đó.
Câu 2. Xác định đề tài, chủ đề của văn bản trên
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của một biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 4. Theo em, vì sao tác giả cho rằng: “Hẳn anh không muốn mình xấu. Hẳn cha mẹ anh cũng không muốn sinh con xấu”?
Câu 5. Phân tích dụng ý, thái độ (thể hiện qua cách dùng từ, sử dụng dấu ngoặc đơn, ngoặc kép) của nhà văn trong câu sau: “Nhưng vào cái lúc vị giám khảo đến từ thành phố văn minh kia “âu yếm” (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên)”.
Câu 6. Chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản
Câu 7. Qua văn bản, tác giả muốn nhắn gửi tới người đọc điều gì?
***
BÀI GIẢI CHI TIẾT
Chào em, cô sẽ giúp em giải từng câu hỏi một cách chi tiết và dễ hiểu nhất nhé!
Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể loại nào? Nêu dấu hiệu nhận biết thể loại đó.
Văn bản trên được viết theo thể loại tùy bút (hoặc tản văn).
Dấu hiệu nhận biết:
-
Ngôn ngữ giàu tính cá nhân, chủ quan: Tác giả sử dụng ngôi kể thứ nhất (“tôi”, “mình”) để bộc lộ trực tiếp cảm xúc, suy nghĩ, chiêm nghiệm của bản thân về một vấn đề đời sống.
-
Không có cốt truyện rõ ràng: Văn bản không kể một câu chuyện có diễn biến, nhân vật cụ thể mà chủ yếu xoay quanh một sự kiện (thí sinh bị chê xấu) để từ đó mở rộng ra các suy nghĩ, cảm nhận, liên tưởng của tác giả.
-
Giàu chất trữ tình và chất suy tưởng: Tác giả đi sâu vào phân tích cảm xúc của nhân vật, của chính mình, đồng thời đưa ra những nhận định, đánh giá về một hiện tượng xã hội (tiêu chuẩn cái đẹp, sự thiếu tế nhị trong giao tiếp).
-
Kết cấu linh hoạt, tự do: Văn bản được triển khai theo dòng cảm xúc, suy nghĩ, liên tưởng của người viết, không bị gò bó bởi một cấu trúc cố định.
-
Đề tài gần gũi, đời thường nhưng mang ý nghĩa sâu sắc: Từ một sự việc cụ thể trong cuộc sống, tác giả đã nâng lên thành một vấn đề mang tính triết lý, nhân văn sâu sắc về cái đẹp, sự đánh giá con người và cách đối xử giữa người với người.
Câu 2. Xác định đề tài, chủ đề của văn bản trên.
-
Đề tài: Văn bản đề cập đến vấn đề đánh giá ngoại hình, sự thiếu tế nhị và vô tâm của con người trong các cuộc thi và trong cuộc sống, đặc biệt là những tổn thương mà lời chê bai ngoại hình có thể gây ra.
-
Chủ đề: Thông qua câu chuyện về thí sinh bị chê xấu, tác giả bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với những người bị đánh giá thấp hoặc bị tổn thương bởi những lời lẽ cay nghiệt về ngoại hình. Đồng thời, tác giả phê phán lối sống trọng hình thức, sự thiếu tế nhị, vô tâm của một bộ phận trong xã hội, đề cao giá trị thật sự của con người và thái độ ứng xử nhân văn.
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của một biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản trên.
Trong văn bản có rất nhiều biện pháp tu từ được sử dụng hiệu quả. Cô sẽ chọn một ví dụ tiêu biểu nhé:
Biện pháp tu từ: So sánh
Ví dụ: “Để đi qua một giấc mơ dài, chợt tỉnh bất ngờ vì bị dội vào người thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt.”
Hiệu quả:
-
Làm nổi bật mức độ đau đớn, tổn thương: Hình ảnh “thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt” so sánh trực tiếp nỗi đau tâm lý mà thí sinh phải chịu đựng với cảm giác đau đớn thể xác cực độ. Nó diễn tả một cách cụ thể, sống động và đầy ám ảnh về sự bàng hoàng, ê chề, nhức nhối khi bị lời chê bai ngoại hình công khai giáng xuống.
-
Nhấn mạnh sự tàn nhẫn của lời nhận xét: Lời nói của vị giám khảo không chỉ là một nhận xét thông thường mà nó sắc lạnh, thấu xương như nước băng, gây ra vết thương sâu sắc khó lành trong tâm hồn người nghe.
-
Gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc: Khiến người đọc dễ dàng hình dung và cảm nhận được nỗi đau tột cùng của nhân vật, từ đó tăng thêm sự đồng cảm và suy ngẫm về tác hại của lời nói vô tâm.
Câu 4. Theo em, vì sao tác giả cho rằng: “Hẳn anh không muốn mình xấu. Hẳn cha mẹ anh cũng không muốn sinh con xấu”?
Tác giả cho rằng: “Hẳn anh không muốn mình xấu. Hẳn cha mẹ anh cũng không muốn sinh con xấu” vì những lí do sau:
-
Ngoại hình là yếu tố bẩm sinh, không thể lựa chọn: Vẻ ngoài của mỗi người phần lớn là do gen di truyền từ cha mẹ, là điều mà con người không thể tự quyết định hay thay đổi một cách dễ dàng. Không ai sinh ra lại mong muốn mình có một ngoại hình không được xã hội đánh giá cao.
-
Tâm lý chung của con người: Ai cũng mong muốn được đẹp, được mọi người yêu mến và chấp nhận. Một ngoại hình được coi là “đẹp” thường mang lại nhiều lợi thế và sự tự tin trong cuộc sống. Vì vậy, việc bị chê xấu là điều không ai mong muốn và dễ gây tổn thương sâu sắc.
-
Thể hiện sự đồng cảm và phản đối cách đánh giá phiến diện: Bằng câu nói này, tác giả muốn nhấn mạnh sự bất công và vô lý của việc đánh giá, thậm chí là chê bai một người dựa vào yếu tố ngoại hình mà họ không thể kiểm soát. Nó là lời bênh vực cho thí sinh, cho những người “bị chê xấu”, đồng thời lên án sự thiếu tế nhị, tàn nhẫn của vị giám khảo.
Câu 5. Phân tích dụng ý, thái độ (thể hiện qua cách dùng từ, sử dụng dấu ngoặc đơn, ngoặc kép) của nhà văn trong câu sau: “Nhưng vào cái lúc vị giám khảo đến từ thành phố văn minh kia “âu yếm” (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên)”.
Trong câu này, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện một dụng ý sâu sắc và thái độ phê phán, mỉa mai thông qua cách dùng từ và dấu câu:
-
“thành phố văn minh kia”: Từ “văn minh” ở đây được dùng với sắc thái mỉa mai. “Thành phố văn minh” lẽ ra phải là nơi sản sinh ra những con người lịch sự, tinh tế, biết cách ứng xử, nhưng vị giám khảo này lại có lời nhận xét vô cùng thô thiển, thiếu tế nhị. Sự đối lập này làm nổi bật sự “văn minh” hình thức, bề ngoài, nhưng lại thiếu vắng sự văn minh trong tâm hồn và hành xử.
-
“âu yếm” (trong dấu ngoặc kép): Dấu ngoặc kép cho thấy đây là một cách dùng từ mang tính chất mỉa mai, châm biếm. Lời nhận xét về ngoại hình, dù được nói với giọng điệu “âu yếm” đến mấy, bản chất vẫn là sự chê bai tàn nhẫn. Tác giả muốn tố cáo sự giả tạo, sự đối lập giữa hình thức bề ngoài và nội dung bên trong của hành động. “Âu yếm” không thể đi đôi với việc làm tổn thương người khác.
-
“(quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên)” (trong dấu ngoặc đơn): Dấu ngoặc đơn dùng để chen vào một lời bình luận, một sự thật phũ phàng. Sự “hồn nhiên” của vị giám khảo càng làm tăng thêm tính chất tàn nhẫn của lời nói. Ông không nhận thức được mức độ tổn thương mà mình gây ra, điều đó cho thấy sự vô tâm đến mức đáng sợ. Sự hồn nhiên này không phải là vô tư mà là sự thiếu ý thức về hậu quả của lời nói, một sự vô cảm ẩn dưới vẻ ngoài bình thường. Nó càng làm cho nỗi đau của thí sinh thêm phần cay đắng và cô độc.
Thái độ của nhà văn:
-
Mỉa mai, phê phán sâu sắc: Thái độ của nhà văn là sự mỉa mai, phê phán gay gắt đối với vị giám khảo và những người có lối suy nghĩ, hành xử tương tự. Tác giả lên án sự thiếu tế nhị, vô tâm và tàn nhẫn của việc đánh giá con người chỉ qua vẻ bề ngoài, đặc biệt khi sự vô tâm đó được thể hiện một cách “hồn nhiên”.
-
Đồng cảm với người bị tổn thương: Đồng thời, thái độ này cũng thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với nỗi đau, sự uất ức của thí sinh, người bị tổn thương bởi những lời lẽ vô tình.
Câu 6. Chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản
Những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản “Ai biểu xấu” bao gồm:
-
Ngôn ngữ giàu cảm xúc, chân thực và gần gũi: Tác giả sử dụng ngôn ngữ đời thường, mộc mạc nhưng lại rất giàu hình ảnh, gợi cảm, dễ đi vào lòng người. Các từ ngữ biểu đạt cảm xúc được dùng rất đắt giá (“điếng dại”, “oán giận”, “chết đứng”, “buốt nhức, cắt da cắt thịt”), giúp người đọc dễ dàng đồng cảm với nhân vật và những suy tư của tác giả.
-
Giọng văn tâm tình, tự sự kết hợp nghị luận: Tác giả kể lại một sự việc, bày tỏ cảm xúc cá nhân (“tôi bỗng nghĩ mình may”, “tôi nhớ có lần…”) nhưng không dừng lại ở đó mà còn lồng ghép những suy nghĩ, chiêm nghiệm, lập luận sắc bén về một vấn đề xã hội (tiêu chuẩn cái đẹp, sự tế nhị trong giao tiếp). Giọng văn vừa tha thiết, đồng cảm, vừa mạnh mẽ, trực diện phê phán.
-
Sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ:
-
So sánh: “như thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt” để nhấn mạnh nỗi đau.
-
Ẩn dụ: “chết đứng trên sân khấu” để diễn tả sự ê chề, bẽ bàng tột độ.
-
Điệp ngữ: “Hẳn anh không muốn…”, “Để không phải…” tạo nhịp điệu và nhấn mạnh ý.
-
Mỉa mai, châm biếm: Đặc biệt thể hiện qua việc dùng dấu ngoặc kép và đối lập (“thành phố văn minh kia ‘âu yếm'”, “vẻ mặt ông rất hồn nhiên” khi nói lời cay nghiệt).
-
-
Kết cấu linh hoạt, tự do theo dòng cảm xúc: Văn bản không theo một bố cục chặt chẽ mà phát triển theo mạch cảm xúc, suy nghĩ của tác giả. Từ một sự kiện cụ thể (cuộc thi), tác giả mở rộng ra những liên tưởng về bản thân, về xã hội, về ý nghĩa của cái đẹp và giá trị con người. Điều này tạo nên sự tự nhiên, chân thật cho văn bản.
-
Tạo tình huống kịch tính và đẩy cảm xúc lên cao: Việc mở đầu bằng lời chê bai công khai trên sân khấu lấp lánh ánh đèn đã tạo ra một tình huống kịch tính, gây sốc, từ đó khơi gợi mạnh mẽ cảm xúc ở cả nhân vật và người đọc.
Câu 7. Qua văn bản, tác giả muốn nhắn gửi tới người đọc điều gì?
Qua văn bản “Ai biểu xấu”, tác giả Nguyễn Ngọc Tư muốn nhắn gửi tới người đọc những thông điệp sâu sắc và nhân văn sau:
-
Ngoại hình không phải là tất cả để đánh giá một con người: Tác giả lên tiếng phản đối việc đặt nặng vẻ bề ngoài, coi đó là tiêu chí duy nhất hoặc quan trọng nhất để đánh giá tài năng, giá trị của một cá nhân. Một người có thể “xấu” theo tiêu chuẩn của số đông nhưng vẫn có những tài năng, vẻ đẹp tâm hồn đáng quý.
-
Sức mạnh và tác hại của lời nói: Lời nói có thể là liều thuốc chữa lành nhưng cũng có thể là lưỡi dao sắc bén “cắt da cắt thịt”. Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết của sự tế nhị, lòng trắc ẩn trong giao tiếp, đặc biệt là khi đưa ra những nhận xét, đánh giá về người khác. Một lời nói vô tâm, thiếu suy nghĩ có thể để lại vết sẹo tâm lý sâu sắc, ám ảnh suốt đời.
-
Sự đồng cảm và thấu hiểu: Văn bản kêu gọi mỗi người hãy đặt mình vào vị trí của người khác để thấu hiểu nỗi đau, sự mặc cảm của họ. Thay vì phán xét, hãy sẻ chia và động viên, bởi không ai muốn mình có những khiếm khuyết hay bị chê bai.
-
Phê phán những chuẩn mực cái đẹp khắt khe, phiến diện của xã hội: Tác giả đặt câu hỏi về những tiêu chuẩn “đẹp” được áp đặt, cho rằng mỗi người có một quan niệm riêng về cái đẹp và không nên ép buộc ai phải tuân theo một khuôn mẫu nhất định. Xã hội cần nhìn nhận đa dạng hơn về cái đẹp và trân trọng những giá trị nội tại.
-
Tự tin vào giá trị của bản thân: Dù có ngoại hình “hạn chế” nhưng mỗi người vẫn có thể tìm thấy con đường riêng, phát huy tài năng và sống có ích. Tác giả tự nhận mình “cũng hạn chế” nhưng vẫn tìm được niềm vui và giá trị trong công việc viết lách, cho thấy vẻ đẹp thực sự nằm ở năng lực và tâm hồn.
Tóm lại, thông điệp chính mà tác giả muốn gửi gắm là hãy đối xử với nhau bằng lòng nhân ái, sự thấu hiểu và tôn trọng, nhìn nhận giá trị con người từ bên trong thay vì chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài phù phiếm.
***
Cô hy vọng những phân tích trên sẽ giúp em hiểu sâu sắc hơn về văn bản và hoàn thành tốt bài tập của mình nhé! Cứ hỏi cô nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác!
Câu 1.
Thể loại: Tản văn
Dấu hiệu nhận biết: Thể hiện trực tiếp suy nghĩ, cảm xúc và cái “tôi” cá nhân của người viết trước một sự việc trong đời sống.
Câu 2.
Đề tài: Sự ứng xử và quan niệm về vẻ đẹp ngoại hình trong các cuộc thi nghệ thuật/đời sống.
Chủ đề: Phê phán thái độ thiếu tế nhị, sự tàn nhẫn của con người khi dùng vẻ bề ngoài để đánh giá và làm tổn thương tâm hồn người khác; đồng thời bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với những người có “ngoại hình hạn chế”.
Câu 3.
-Biện pháp tự từ: So sánh “Để đi qua một giấc mơ dài, chợt tỉnh bất ngờ vì bị dội vào người thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt.”
-Tác dụng:
+Làm cho nỗi đau tinh thần trở nên hữu hình, cụ thể.
+Nhấn mạnh sự bàng hoàng, tổn thương cực độ và sự lạnh lẽo, tàn nhẫn của lời chê bai đối với tâm hồn người nghệ sĩ đang khao khát cống hiến.
Câu 4. Tác giả viết như vậy vì:
Ngoại hình là thứ không thể tự lựa chọn khi sinh ra; đó là món quà (hoặc sự định đoạt) của tạo hóa và cha mẹ. Không ai có lỗi khi mình không đẹp. Việc chê bai một thứ mà con người không thể kiểm soát được là một hành động vô lí và thiếu thấu cảm.
Câu 5. Dụng ý và thái độ của nhà văn
– Từ ngữ “thành phố văn minh”: Cách gọi đầy mỉa mai. “Văn minh” thường đi đôi với lịch sự, tế nhị, nhưng hành động của vị giám khảo lại trái ngược hoàn toàn.
– Dấu ngoặc kép “âu yếm”: Đây là phép mỉa mai, châm biếm. Lời nhận xét gây tổn thương sâu sắc nhưng lại được thực hiện bằng một thái độ có vẻ nhẹ nhàng, khiến sự tàn nhẫn càng trở nên khó chấp nhận hơn.
– Dấu ngoặc đơn (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên): Thể hiện sự chua chát của tác giả. Sự “hồn nhiên” ở đây chính là sự vô tâm đến đáng sợ – người ta làm tổn thương người khác mà thậm chí không ý thức được mình đang làm sai.
Câu 6. Nét đặc sắc về nghệ thuật
– Ngôn ngữ: Giản dị, đậm chất Nam Bộ nhưng đầy sức gợi và sâu cay.
– Cách đặt vấn đề: Trực diện, xoáy sâu vào tâm lí nhân vật và người đọc.
– Giọng văn: Đa dạng, lúc xót xa, đồng cảm, lúc châm biếm, phê phán gay gắt.
– Sự kết hợp: Giữa cái “tôi” cá nhân nhạy cảm và cái nhìn sắc sảo về những bất công trong xã hội.
Câu 7. Thông điệp gửi gắm
Qua văn bản, Nguyễn Ngọc Tư muốn nhắn gửi:
Hãy học cách tế nhị và thấu cảm. Đừng lấy khuyết điểm của người khác làm trò cười hay tiêu chuẩn để hạ thấp giá trị của họ. Tài năng và tâm hồn (giọng hát) quan trọng hơn vẻ bề ngoài. Đừng để sự vô tâm làm chết lặng những ước mơ và tâm huyết của người khác.
#Rinn.
\(***\) Bài làm
Câu 1:
\(-\) Thể loại: Tản văn
\(-\) Dấu hiệu: Thể hiện chi tiết và rõ nét cảm xúc, trạng thái mang đầy vẻ suy tư của nhà văn, sự phê phán cũng như cái nhìn của tác gả trước một hiện tượng trong xã hội – một thí sinh bị chê xấu, với việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh đậm chất trữ tình, ô đã mang đến cho người đọc hiểu về sự đồng cảm sâu sắc, phê phán những kẻ miệt thị ngoại hình.
Câu 2:
\(-\) Đề tài: những định kiến trong xã hội về ngoại hình (miệt thị những người không có ngoại hình).
\(-\) Chủ đề: Tác giả muốn bày tỏ sự xót xa và đồng cảm đối với những người bị miệt thị ngoại hình đồng thời muốn phê phán, lên án cách ứng xử thiếu tế nhị của những người thích đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài.
Câu 3:
\(-\) Biện pháp tu từ: Điệp ngữ
\(-\) Dấu hiệu nhận biết: Điệp từ “hẳn” trong hai câu văn sau:
“Hẳn anh không muốn mình xấu. Hẳn cha mẹ anh cũng không muốn sinh con xấu”.
\(-\) Tác dụng (hiệu quả):
\(+\) Về mặt nghệ thuật: Giups tăng giá tri biểu cảm, tạo tính nhịp điệu cho câu văn.
\(+\) Về mặt nội dung: Phê phán những người chê bai ngoại hình người khác một cách vô lý, thiếu sự tôn trọng và nhân văn.
\(+\) về cảm xúc tác giả: Qua đó tác giả muốn phê phán những người miệt thị ngoại hình cũng như thể hiện sự xót xa, thông cảm đối với những người bị chê bai.
Câu 4:
\(@\) Lý do tác giả cho là vậy vì
\(-\) Không ai muốn bản thân mình sinh ra xấu xí, bị người đời chê cười.
\(-\) Ngoại hình là tự nhiên mà có, không phải được cha mẹ lựa chọn.
\(->\) Chúng ta nên tôn trọng người khác, ngược lại nên nhìn nhận lại bản thân mình để xem xét và sửa đổi, không phụ thuộc vào ngoại hình để lấy thiện cảm hay đánh giá bản chất, nhân cách của một con người.
Câu 5:
\(-\) Từ “âu yếm” trong câu của tác giả được dùng với sắc thái vô cùng mỉa mai, châm biếm bởi ông cho rằng lời nhận xét ấy thực chất là đang chê bai, khihh thường người khác.
\(+\) Cụm [quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên] là để bổ sung thông tin, thêm giọng điệu đầy chua chát, kh cảm xúc của vị giám khảo -> thể hiện rằng giám khảo là một người rất hời hợt, vô tâm, không nghĩ đến cảm xúc của người tham gia thi. (kiểu tự cao tự đại)
Câu 6:
\(***\) Một vài nét đặc sắc về nghệ thuật trong văn bản:
\(+\) Về giọng điệu: Tác giả sử dụng giọng điệu vô cùng giản dị, giongj văn giàu cảm xúc nhưng pha trộn với đó là một phần của sự mỉa mai, đầy chua cay. Tuy vậy, vẫn có lúc giọng văn của ông thể hiện sự đồng cảm, xót xa nhưng có lúc lại đầy phẩn châm biếm, phê phán.
\(+\) Ngôn ngữ đời thường, gần gũi nhưng giàu sức gợi cảm
\(+\) Đặt vấn đề vô cùng trực diện, ngay lập tức đi thẳng vào vấn đề, không lan man lòng vòng mà xoáy sâu vào tâm lí người đọc, phê phán hiện tương xã hội gay gắt.
\(+\) Sử dugnj thành công câu hỏi tu từ, nghệ thuật và dấu ngoặc -> giúp nhấn mạnh, gợi như một phep ẩn dụ để tăng hiệu quả châm biếm.
Câu 7:
\(-\) Qua văn bản trên, tác giả muốn nhắn gửi rằng:
\(+\) Cần phải biết tôn trọng, ứng xử văn minh đối với người khác
\(+\) Chú tâm và để ý tới cảm xúc của mọi người xung quanh, không tự cho mình là trung tâm, thích nói gì cũng được.
\(+\) Phải biết cảm thông và đặt bản thân mình vào vị trí người khác.
\(+\) Không mỉa mai hay chê cười ai chỉ vì ngoại hình hay sự đặc biệt (khác với mọi người bình thường) của họ.

Trợ Lý Xưởng In Thiên Nam
Add comment