Không hẹn trước mà lần nào trở về tôi cũng gặp trúng mùa trăng. Mùa trăng có ý n…
Đã mấy lần trăng lên rồi trăng tàn tôi không về. Mấy mùa trăng là mấy lần mẹ mang mẹt thuốc ra phơi, rồi lại mang vào cất đi. Ngày tiễn tôi đi, cha tôi bùi ngùi: “Mày đi thì tốt cho cái thân mày chứ ở đây mãi cũng như tao, như anh mày thôi, tóc bạc, mỏi chân, cũng chỉ có chín bậc cầu thang với cái ngưỡng cửa. Cố mà học lấy cái khôn vào đầu nhưng phải nhớ giữ cái lưng cho thẳng, giữ cái đầu không cúi xuống… Lìn à”. Lúc ấy, nhìn vào mắt cha, tôi đã định không đi, nhưng cha đẩy tôi lên xe. Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy cha. Vào đời, chưa kịp học lấy cái khôn vào đầu cho “mắt sáng ra, cho miệng rộng ra” để mang về khoe với cha thì cha đã ra đi, sau cái chết đột ngột của anh Lân tôi. Từ đó, mỗi khi nhớ về căn nhà rộng thênh thang của mình, tôi không hình dung nổi nó ra sao khi thiếu vắng bàn tay sắp đặt kỹ lưỡng của cha.
Về đến con suối đầu bản tôi gần như vấp phải một người đang ngồi trên phiến đá rộng như mặt bàn. Một chàng trai còn rất trẻ, hai bắp vai vồng lên dưới lớp áo tà phủ còn thơm mùi lá nhuộm. “Làm gì mà ngồi ở đây một mình thế?”. “Ngồi chơi trăng lên thôi”. “A, lại thổi khèn gọi con gái nhà ai phải không?”. Chàng trai cuối đầu ngượng nghịu. Tôi ngồi xuống cạnh anh ta, để nguyên cả giày sục xuống suối. Nước suối ấm, chầm chậm uốn quanh bãi lanh mọc cao hơn đầu người. Vì thế về bản phải lội hai lần trên cùng một con suối. Ngày nhỏ, anh em tôi với lũ bạn cứ nằm xoài ra, để nước cuốn trôi từ trên xuống dưới bãi lanh, đập nước mỏi chân vài lần là biết bơi.
Một tốp con gái đi nương về lội ào qua mặt tôi, phảng phất mùi của lá dẻ khô, mùi nương đồi, mùi cỏ cháy, buông lời chòng ghẹo. “Hôm nay lại có thêm một người nữa à. Anh gì ơi, đến Vần Chải tìm ai đấy?”. “Chắc là tìm đứa con gái đẹp nhất rồi”. “Thế thì không có đâu. Con gái Vần Chải ai cũng đẹp như nhau mà”. Tiếng cười rộ lên, khuất sau bãi lanh rồi vẫn nghe tiếng cười, cả tiếng hát cất lên: “… Dêu hẩn lầu tẩu lốc, bản nuông bàu mi lóc. Lóc hẩn lầu tẩu lải, bản nuông bàu mi vai…” (Bản em không có nắng, lấy trời râm làm cảnh đẹp. Bản em không mưa phùn, thì chàng ơi hãy về)… Tiếng hát bay lên, dội vào vách núi cao ngất, xao động cả đêm đang xuống. Tôi đi qua bãi lanh, cảm giác hơi ấm của đám con gái vừa đi qua vẫn còn phảng phất.
Đến đoạn suối thứ hai, định lội ào qua rồi về nhà mình luôn thì tôi bắt gặp một người đang dầm mình dưới chỗ nước sâu […]
Đang định đứng dậy, quay lại chỗ ban nãy, chờ cho cô gái đi trước rồi mới về. Thì cô gái đã đứng lên. Tôi cứng đờ như thằng ăn trộm bị bắt quả tang. Cô gái ú ớ không thành tiếng một lúc rồi kêu lên: “Ôi, chú Lìn. Chú Lìn phải không? Làm chị hết cả hồn. Chú về sao không báo trước cho mẹ mừng?”. Tôi líu ríu: “Chị dâu! Sao đi nương về muộn thế, lại còn đi một mình!”. “Ừ. Cố một tí cho xong để mai còn sang nương khác”. “Đưa gùi em mang cho.” “Thôi, chú không gùi được đâu. Lâu lâu không gùi cái gì thì đau vai lắm.”. Chị cúi xuống xốc gùi củi lên vai. Gùi củi cồng kềnh lại nặng nên cả người chị phải lao về đằng trước. Đi sau, tôi nhận ra hơi nóng từ cơ thể chị làm cho váy áo ướt như có sương mù bay lên. Ở miền núi, con gái phải tập gùi từ lúc 8, 9 tuổi. Gùi mãi, đủ thứ trên lưng, già rồi vẫn gùi nên bao giờ lưng cũng còng sớm hơn lưng đàn ông. Chị dâu tôi còn phải gùi nhiều hơn người khác, gùi thay cả mẹ, thay cả tôi. Chẳng biết đến bao giờ mới thôi không phải gùi nữa. Từ sáng sớm đến tối mịt, cái lưng chỉ thẳng ra mỗi lúc ngủ.Hai chị em mải miết đi, phía sau tiếng khèn lá đã cất lên […]
Câu hỏi: Từ văn bản, viết đoạn văn (200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật kể chuyện của văn bản trên
Đoạn trích thể hiện những nét đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện, tạo sức hút mạnh mẽ với người đọc và thể hiện tài năng của tác giả. Đầu tiên, việc sử dụng ngôi kể thứ nhất (xưng “tôi”) giúp người kể dễ dàng bộc lộ cảm xúc, suy tư nội tâm và quan sát mọi vật một cách chủ quan, chân thực, tạo sự gần gũi, đồng cảm sâu sắc giữa người đọc và nhân vật.
Nghệ thuật miêu tả đặc biệt tinh tế qua việc sử dụng dày đặc các chi tiết cảm giác. Người kể đã khéo léo huy động mọi giác quan để vẽ nên bức tranh miền núi sống động, giàu chất thơ và đậm đà bản sắc: từ thị giác (“mùa trăng”, “khói bếp”, “bãi lanh”), thính giác (“tiếng cười rộ lên”, “tiếng hát cất lên”, “tiếng khèn lá”), khứu giác (“mùi lá nhuộm”, “mùi nương đồi, mùi cỏ cháy”) đến xúc giác (“nước suối ấm”, “hơi ấm của đám con gái”, “hơi nóng từ cơ thể chị”). Những chi tiết này không chỉ làm cảnh vật hiện lên rõ nét mà còn truyền tải được không khí, hơi thở của cuộc sống nơi đây.
Ngôn ngữ truyện giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời kể và lời thoại. Các đoạn đối thoại tự nhiên, chân thực, khắc họa rõ nét tính cách nhân vật và nếp sống của đồng bào dân tộc. Đặc biệt, việc lồng ghép các yếu tố văn hóa địa phương như câu hát dân ca, hình ảnh “gùi”, “khèn” càng tăng thêm tính chân thực và sức quyến rũ cho tác phẩm. Cuối cùng, việc kết hợp khéo léo giữa hồi ức và hiện tại cũng là một điểm nhấn, giúp câu chuyện có chiều sâu cảm xúc, vừa hoài niệm về quá khứ vừa thấm đẫm tình yêu quê hương, gia đình.
Trong văn bản trên, nghệ thuật kể chuyện mang đậm dấu ấn phong cách văn xuôi miền núi với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất thơ và sự chân thực của đời sống. Đặc sắc đầu tiên nằm ở việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất (nhân vật Lìn), tạo nên một điểm nhìn nội tâm đầy cảm xúc. Cách kể này giúp câu chuyện không chỉ là sự trần thuật về một chuyến trở về bản, mà còn là dòng hồi ức đan xen giữa hiện tại và quá khứ, giữa niềm vui hội ngộ và nỗi đau mất mát khi cha và anh không còn. Thứ hai, nghệ thuật xây dựng hình ảnh và không gian của tác giả vô cùng tinh tế. Hình ảnh “mùa trăng”, “bãi lanh”, “chín bậc cầu thang” hay “mùi lá dẻ khô” không chỉ gợi lên không gian đặc trưng của vùng cao Vần Chải mà còn mang ý nghĩa biểu tượng cho sự bền bỉ, nhẫn nại của con người nơi đây. Thứ ba, ngôn ngữ kể chuyện giàu nhạc điệu và đậm chất văn hóa bản địa. Việc đan cài những câu hát giao duyên bằng tiếng dân tộc cùng lối so sánh ví von mộc mạc (“phiến đá rộng như mặt bàn”, “đứng đờ như thằng ăn trộm”) làm cho câu chuyện trở nên sinh động, gần gũi. Cuối cùng, nhịp điệu kể chuyện chậm rãi, giàu chất trữ tình đã khắc họa thành công sự tương phản giữa vẻ đẹp lãng mạn của đêm trăng với nỗi vất vả của người phụ nữ miền núi (hình ảnh chị dâu gùi củi). Tất cả tạo nên một sức ám ảnh sâu sắc, khơi gợi trong lòng người đọc niềm trân trọng đối với những giá trị nhân văn và bản sắc văn hóa vùng cao.

Trợ Lý Xưởng In Thiên Nam
Add comment