Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ
Ôi, nh…
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ
Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị….
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu.
Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ
Nắng mong manh đậu bên thật khẽ
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng!
Heo may thổi xao xác trong đêm
Không gian lặng im…
Conchẳngthể chợpmắt
Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức
Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng!
(Mùa thu của mẹ – Lương Đình Khoa)
Văn bản được sử dụng thể thơ gì? Nêu dâus hiệu mà em biết thể thơ đó.
Câu hỏi 1: Văn bản được sử dụng thể thơ gì? Nêu dấu hiệu mà em biết thể thơ đó.
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần quan sát kỹ lưỡng cách gieo vần, ngắt nhịp, và số tiếng trong mỗi câu thơ của đoạn trích.
Phân tích:
Đầu tiên, chúng ta cùng xem xét số tiếng trong mỗi câu thơ:
Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn (7 tiếng)
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ (8 tiếng)
Ôi, những trái na, hồng, ổi, thị…. (8 tiếng)
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu. (8 tiếng)
Con nghe mùa thu vọng về những thương yêu (9 tiếng)
Giọt mồ hôi rơi trong chiều của mẹ (8 tiếng)
Nắng mong manh đậu bên thật khẽ (7 tiếng)
Đôi vai gầy nghiêng nghiêng! (6 tiếng)
Heo may thổi xao xác trong đêm (8 tiếng)
Không gian lặng im… (5 tiếng)
Con chẳng thể chợp mắt (6 tiếng)
Mẹ trở mình trong tiếng ho thao thức (8 tiếng)
Sương vô tình đậu trên mắt rưng rưng! (8 tiếng)
Chúng ta thấy rằng số tiếng trong mỗi câu thơ không cố định, có câu 7, có câu 8, có câu 9, có câu 6, có câu 5. Điều này cho thấy đây không phải là những thể thơ có niêm luật chặt chẽ như lục bát hay thất ngôn bát cú.
Tiếp theo, chúng ta xét đến vần. Vần được gieo ở cuối các câu thơ. Tuy không tuân theo một quy luật cố định nào, nhưng ta vẫn có thể nhận thấy có sự có mặt của vần ở một số chỗ, ví dụ như “vườn” – “lặng lẽ” (không vần), “lặng lẽ” – “thị” (không vần), “thị” – “chiu” (không vần), “chiu” – “yêu” (có vần “iu”), “yêu” – “mẹ” (không vần), “mẹ” – “khẽ” (có vần “e”), “khẽ” – “nghiêng” (không vần), “nghiêng” – “đêm” (không vần), “đêm” – “im” (không vần), “im” – “mắt” (không vần), “mắt” – “thức” (không vần), “thức” – “rưng” (không vần). Sự xuất hiện ngẫu nhiên và thưa thớt của vần cho thấy đây không phải là đặc trưng của các thể thơ truyền thống.
Quan trọng hơn, chúng ta cảm nhận được nhịp điệu của bài thơ. Nhịp điệu không đều đặn, tự do, khi thì dồn dập, khi thì chậm rãi, thể hiện cảm xúc chân thật của nhân vật trữ tình.
Kết luận:
Với đặc điểm số tiếng không cố định trong mỗi câu, vần không tuân theo quy luật chặt chẽ, nhịp điệu tự do, linh hoạt, đoạn thơ được sử dụng thể thơthơ tự do.
Dấu hiệu nhận biết thơ tự do:
1. Số tiếng trong mỗi câu thơ không cố định, có thể dài hoặc ngắn khác nhau.
2. Vần không theo một quy luật cố định nào, có thể có hoặc không có vần, vần có thể xuất hiện ở cuối câu, giữa câu hoặc ngắt quãng.
3. Nhịp điệu bài thơ linh hoạt, tự do, phụ thuộc vào cảm xúc và ý đồ diễn đạt của tác giả.
4. Bài thơ thường chú trọng diễn tả cảm xúc, suy tư, nội tâm của nhân vật trữ tình một cách chân thực và sinh động.
Đoạn thơ “Mùa thu của mẹ” của Lương Đình Khoa đã sử dụng rất thành công thể thơ tự do để khắc họa hình ảnh người mẹ tần tảo, hy sinh và tình yêu thương vô bờ bến của người con dành cho mẹ. Chính sự tự do trong hình thức đã giúp cho bài thơ chạm đến trái tim người đọc một cách sâu sắc.
Các em có thắc mắc gì không?
Văn bản “Mùa thu của mẹ” được sử dụng thể thơ:
→ Thơ tự do .
—————————–
Dấu hiệu nhận biết :
+ Không có số lượng câu, số chữ cố định trong mỗi khổ thơ .
+ Không tuân theo một luật bằng trắc và gieo vần chặt chẽ.
+ Vần trong bài thơ được gieo khá linh hoạt , không theo một quy tắc nhất định và có thể vần ở cuối câu hoặc vần liền , vần cách tùy theo cảm xúc của tác giả .
Thể thơ:thơ tự do
DHNB:
– Số chữ, dòng khác nhau
– Vần gieo linh hoạt…

Trợ Lý Xưởng In Thiên Nam
Add comment