PHẦN I. ĐỌC HIỂU Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi: KHÓC DƯƠNG KHUÊ…
Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi:
KHÓC DƯƠNG KHUÊ
(Nguyễn Khuyến)
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta,
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau,
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời?
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo,
Có khi tầng gác cheo leo,
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang(1),
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương(2) ăm ắp bầu xuân,
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích, điển phần(3) trước sau,
Buổi dương cửu(4) cùng nhau hoạn nạn,
Phận đẩu thăng(5) chẳng dám tham trời,
Bác già, tôi cũng già rồi,
Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là!
Muốn đi lại tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần,
Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can,
Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày,
Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời,
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Vội vàng sao đã mải lên tiên,
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua,
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa,
Giường kia(6) treo những hững hờ,
Đàn kia(7) gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn,
Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương,
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan.
(Theo Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 2012)
Chú thích:
* Dương Khuê (1839 – 1902) người làng Vân Đình, tổng Phương Đình, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Ứng Hòa, thuộc Hà Nội), đỗ tiến sĩ năm 1868, làm quan đến chức Tổng đốc Nam Định, Ninh Bình. Ông là bạn thân của nhà thơ Nguyễn Khuyến.
Khóc Dương Khuê lúc đầu viết bằng chữ Hán (Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng thư), sau đó được chính Nguyễn Khuyến dịch ra chữ Nôm và bản chữ Nôm lại có phần phổ biến hơn bản chữ Hán.
(1) Cầm xoang (cầm: đàn; xoang: điệu hát): ở đây chỉ việc tác giả và bạn đi hát ả đào.
(2) Quỳnh tương: chỉ thứ rượu ngon.
(3) Đông bích: chỉ phòng đọc sách. Điển phần: tức tam phần ngũ điển, chỉ các sách thời thượng cổ Trung Quốc mà nhà nho xưu nghiên cứu.
(4) Buổi dương cửu: thời buổi suy đồi, vận hạn; ở đây chỉ thời gian nước ta bị thực dân Pháp xâm lược.
(5) Phận đẩu thăng: đẩu và thăng là dụng cụ đong thóc gạo thời xưa. Các quan ngày xưa nhận lương bằng thóc nên nói phận đẩu thăng là nói phận người làm quan.
(6) Giường kia: Trần Phồn thời hậu Hán có người bạn thân là Từ Trĩ. Phồn dành riêng cho bạn một cái giường khi bạn đến chơi mời ngồi, lúc bạn về lại treo giường lên.
(7) Đàn kia: Tương truyền Bá Nha và Chung Tử Kì là hai người bạn. Bá Nha là người chơi đàn giỏi. Tử Kì có tài nghe tiếng đàn của Bá Nha mà hiểu được điều Bá Nha đang nghĩ. Người ta gọi đó là bạn tri âm (biết được tiếng đàn). Sau khi Tử Kì chết, Bá Nha đập bỏ đàn vì cho rằng không có ai hiểu được tiếng đàn của mình. Có thuyết nói là Bá Nha treo đàn không gảy nữa.
Câu 1. Bài thơ trên viết theo thể thơ nào và về đề tài gì?
Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ
Câu 3. Phân tích tác dụng của việc sử dụng điển tích “giường kia” và “đàn kia” trong hai câu thơ sau:
Giường kia treo những hững hờ,
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn,
Câu 4. Tình bạn thắm thiết, thủy chung giữa hai người được thể hiện như thế nào?
Câu 5. Bài thơ Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến) giúp anh/chị có thêm nhận thức gì về tình bạn, tình người trong cuộc sống?
Chào các em học sinh lớp 9 yêu quý! Hôm nay, thầy/cô sẽ đồng hành cùng các em để giải chi tiết phần Đọc hiểu của văn bản vô cùng xúc động và thấm đẫm tình người – bài thơ “Khóc Dương Khuê” của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Chúng ta cùng bắt đầu nhé!
GỢI Ý TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI ĐỌC HIỂU
Câu 1. Thể thơ và đề tài của bài thơ:
- Thể thơ: Song thất lục bát (câu 7 chữ kết hợp với cặp câu lục bát). Thể thơ này có nhịp điệu uyển chuyển, giọng điệu tâm tình, rất phù hợp để bày tỏ nỗi niềm thương xót, hoài niệm sâu sắc.
- Đề tài: Tình bạn thắm thiết, tri âm tri kỷ giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê.
Câu 2. Các biện pháp tu từ và tác dụng:
Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng linh hoạt và thành công các biện pháp tu từ tiêu biểu sau:
- Điệp từ, điệp ngữ: Các từ ngữ như “thôi”, “có khi”, “không”… được lặp lại nhiều lần.
- Câu hỏi tu từ: “Làm sao bác vội về ngay?”, “Viết đưa ai, ai biết mà đưa?”…
- Biện pháp nói giảm nói tránh, ẩn dụ: “mải lên tiên” (chỉ cái chết).
- Tác dụng chung: Nhấn mạnh nỗi đau đớn đến tột cùng, sự ngỡ ngàng, hụt hẫng của nhà thơ khi người bạn tri kỷ đột ngột qua đời. Đồng thời, các biện pháp nghệ thuật này giúp khắc hoạ chân thực tình cảm gắn bó, keo sơn, niềm hoài niệm khôn nguôi về những kỷ niệm đẹp đẽ thuở sinh thời giữa hai ông.
Câu 3. Tác dụng của việc sử dụng điển tích “giường kia” và “đàn kia”:
- Điển tích:
- “Giường kia” nhắc lại tích Trần Phồn và Từ Trĩ (dành riêng giường cho bạn, bạn mất thì treo giường lên).
- “Đàn kia” nhắc lại tích Bá Nha và Chung Tử Kỳ (bạn mất, đập đàn/treo đàn vì không còn ai tri âm).
- Tác dụng: Việc vận dụng tinh tế hai điển tích trên kết hợp với các từ láy “hững hờ”, “ngẩn ngơ” đã diễn tả vô cùng sinh động sự trống vắng, cô đơn và nỗi đau đớn tột cùng của Nguyễn Khuyến khi vắng bóng người bạn hiền. Qua đó, nhà thơ khẳng định tình bạn tri âm, tri kỷ sâu sắc, thủy chung hiếm có giữa hai người; người bạn mất đi cũng đồng thời để lại sự hụt hẫng, vô nghĩa cho mọi sinh hoạt đời thường của người ở lại.
Câu 4. Tình bạn thắm thiết, thủy chung giữa hai người được thể hiện qua các khía cạnh:
- Gắn bó sâu sắc từ thuở trẻ đến khi tuổi già: Cùng nhau đăng khoa, đồng cam cộng khổ qua bao thăng trầm thời thế (hoạn nạn, buổi dương cửu), cùng chia sẻ những thú vui tao nhã (thưởng trà, ngâm thơ, nghe hát, uống rượu).
- Sự thấu hiểu và trân trọng lẫn nhau: Tình cảm vượt lên trên mọi danh lợi tầm thường, là tình tri kỷ khó tìm trong cuộc đời.
- Nỗi đau đớn, tiếc thương vô hạn khi bạn qua đời: Tin bạn mất khiến tác giả “chân tay rụng rời”, tuổi già “hạt lệ như sương”. Sự trống vắng, hụt hẫng bao trùm toàn bộ không gian sống (giường treo hững hờ, đàn ngẩn ngơ tiếng). Tình cảm ấy kéo dài mãi, biến thành nỗi nhớ thương sâu thẳm trong tâm hồn người ở lại.
Câu 5. Nhận thức về tình bạn, tình người trong cuộc sống:
Từ bài thơ “Khóc Dương Khuê”, mỗi chúng ta rút ra được những bài học sâu sắc cho bản thân:
- Trong cuộc đời, có được một người bạn chân thành, một người tri kỷ để cùng sẻ chia buồn vui, thấu hiểu tâm tư là điều vô cùng quý giá và đáng trân trọng.
- Tình bạn đẹp cần được xây dựng trên sự chân thành, lòng thủy chung, sự đồng cảm và sẵn sàng đồng hành cùng nhau qua mọi hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn của cuộc sống.
- Chúng ta cần biết trân trọng từng khoảnh khắc được ở bên những người thân yêu, bạn bè của mình hiện tại, để khi mai sau không phải hối tiếc vì bất cứ điều gì.
Hy vọng phần hướng dẫn chi tiết này sẽ giúp các em hiểu sâu hơn về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, từ đó làm phong phú thêm vốn văn học và bài học làm người của mình nhé. Chúc các em học tập thật tốt!
\(1.\)
\(-\) Bài thơ được viết theo thể thơ song thất lục bát. Bài thơ viết về đề tài tình bạn, cụ thể là nỗi đau buồn, tiếc thương sâu sắc của Nguyễn Khuyến trước sự ra đi của người bạn thân Dương Khuê, đồng thời thể hiện tình bạn gắn bó, thủy chung giữa hai người
\(2.\)
\(-\) Một số biện pháp tu từ nổi bật:
\(+\) Điệp từ, điệp ngữ: “có khi”, “cũng có lúc”, “thôi”, “không”… \(->\) nhấn mạnh những kỉ niệm phong phú, sâu sắc giữa hai người và nỗi đau, sự hụt hẫng của tác giả trước mất mát
\(+\) Điệp cấu trúc: “Có khi…”, “Cũng có lúc…” \(->\) tái hiện lần lượt những kỉ niệm về tình bạn: cùng đi chơi, uống rượu, ngâm thơ, bàn văn
\(+\)Câu hỏi tu từ: “Làm sao bác vội về ngay”, “Viết đưa ai, ai biết mà đưa”\(->\) thể hiện sự bàng hoàng, đau đớn và nỗi cô đơn khi người bạn tri kỉ không còn
\(+\) Phép đối: “Bác già, tôi cũng già rồi”, “Rượu ngon không có bạn hiền” \(->\) làm nổi bật sự gắn bó và nỗi trống vắng của tác giả
\(+\) Ẩn dụ, điển tích: “giường kia”, “đàn kia” \(->\) gợi tình bạn tri kỉ, đồng thời cho thấy sự trống vắng khi người bạn đã mất
\(3.\)
\(-\) Hai hình ảnh “giường kia” và “đàn kia” đều là những điển tích gắn với tình bạn tri kỉ. “Giường kia” gợi câu chuyện Trần Phồn dành riêng chiếc giường cho người bạn thân Từ Trĩ, còn “đàn kia” gợi tình bạn tri âm giữa Bá Nha và Chung Tử Kì. Khi đưa hai điển tích này vào thơ, Nguyễn Khuyến vừa khẳng định Dương Khuê chính là người bạn hiểu mình, đồng điệu với mình, vừa diễn tả nỗi trống vắng sau khi bạn qua đời. “Giường kia” nay chỉ còn treo hững hờ, “đàn kia” dù gảy cũng trở nên ngẩn ngơ, bởi người tri kỉ đã không còn. Qua đó, nỗi cô đơn và đau đớn của Nguyễn Khuyến được thể hiện sâu sắc, đồng thời làm cho tình bạn giữa hai người mang vẻ đẹp của một tình bạn tri âm, tri kỉ
\(4.\)
\(-\) Tình bạn thắm thiết, thủy chung giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê được thể hiện qua nhiều phương diện. Trước hết, họ là những người bạn gắn bó từ thuở “đăng khoa ngày trước”, cùng chia sẻ niềm vui và những năm tháng cuộc đời. Hai người từng cùng nhau đi chơi, nghe tiếng suối, thưởng rượu, nghe hát, làm thơ và bàn luận sách vở. Đặc biệt, trong những lúc đất nước gặp vận hạn, họ vẫn cùng nhau trải qua khó khăn, hoạn nạn. Khi Dương Khuê mất, Nguyễn Khuyến vô cùng đau đớn, bàng hoàng đến mức “chân tay rụng rời”. Những thú vui quen thuộc như uống rượu, làm thơ cũng trở nên vô nghĩa vì không còn người bạn tri kỉ. Qua đó, bài thơ cho thấy một tình bạn chân thành, sâu sắc, gắn bó lâu dài và thủy chung ngay cả khi một người đã qua đời
\(5.\)
\(-\) Bài thơ giúp em nhận thức sâu sắc hơn về giá trị của tình bạn và tình người trong cuộc sống. Một tình bạn đẹp không chỉ được tạo nên bởi những niềm vui mà còn được thử thách qua thời gian và những lúc khó khăn, hoạn nạn. Người bạn chân thành là người biết sẻ chia, thấu hiểu và luôn trân trọng nhau. Khi mất đi một người bạn tri kỉ, nỗi đau và sự trống vắng có thể trở nên rất lớn, bởi đó là sự mất mát về tinh thần khó có gì thay thế. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng những người bạn tốt, sống chân thành, thủy chung và biết quan tâm, sẻ chia với bạn bè. Tình bạn đẹp không chỉ làm cuộc sống thêm ý nghĩa mà còn giúp con người có thêm điểm tựa tinh thần trên hành trình trưởng thành

Trợ Lý Xưởng In Thiên Nam
Add comment