Tìm TẤT CẢ các từ ngữ địa phương có trong văn bản sau
ÁO TẾT
Nguyễn Ngọc Tư
Con …
ÁO TẾT
Nguyễn Ngọc Tư
Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà mới mua cho:
– Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. Nó nghĩ và nó muốn chia sẽ với con Bích, bạn nó.
Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá trời nên tính trước, nếu mùng Một con bé Em đi về ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bầu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.
Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi xách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:
– Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?
– Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.
– Vậy mầy được mấy bộ?
– Có một bộ hà.
Con bé Em trợn mắt:
– Ít quá vậy?
– Con Út Mót với Con Út được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.
– Vậy à?
Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.
Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:
– Còn mầy?
– Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.
– Mầy sướng rồi. Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:
– Bộ đồ mầy mai chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen? Rồi tới mùng Một, mùng Hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:
– Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.
Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.
Trước hết, các em cần hiểu “từ ngữ địa phương” là gì. Đó là những từ ngữ chỉ được sử dụng phổ biến ở một vùng miền nhất định, không được dùng hoặc ít được dùng ở các vùng miền khác trên cả nước. Trong văn học, việc sử dụng từ ngữ địa phương giúp tác phẩm trở nên chân thực, gần gũi và mang đậm bản sắc văn hóa của vùng đất đó.
Bây giờ, chúng ta sẽ đi tìm các từ ngữ địa phương có trong văn bản “ÁO TẾT”. Các em hãy đọc kỹ từng câu, từng chữ và chú ý đến những từ mà mình cảm thấy lạ hoặc chỉ quen thuộc khi nghe ai đó nói ở quê mình nhé.
Sau khi đọc và suy ngẫm, chúng ta có thể tìm thấy những từ ngữ địa phương sau:
1. “con bé Em”: Đây là một cách gọi thân mật, quen thuộc ở một số vùng miền Nam Bộ để chỉ một bé gái. Cách gọi này mang sắc thái tình cảm trìu mến.
2. “con Bích”: Tương tự như “con bé Em”, “con Bích” cũng là cách gọi tên người theo kiểu địa phương, thường gặp ở Nam Bộ, thể hiện sự gần gũi, thân quen.
3. “hẻm”: Từ này tuy đã khá phổ biến, nhưng trong ngữ cảnh này, “hẻm” thường được hiểu là lối đi nhỏ, ngoằn ngoèo, đặc trưng của các khu dân cư ở Nam Bộ. Nó gợi lên hình ảnh những con đường nhỏ trong các khu phố cũ hoặc ven đô.
4. “má nó”: Cách gọi “má” thay cho “mẹ” là một đặc trưng rõ rệt của phương ngữ Nam Bộ.
5. “bắp nướng”: “Bắp” là từ ngữ địa phương để chỉ ngô. “Bắp nướng” là ngô nướng, một món ăn vặt quen thuộc.
6. “xách cặn”: Đây là một từ ngữ địa phương khá đặc biệt. “Cặn” ở đây có thể hiểu là những thứ dư thừa, bã sau khi làm gì đó, hoặc trong ngữ cảnh này, có thể liên quan đến việc chăn nuôi gia súc. “Xách cặn” có thể hiểu là mang đi đổ hoặc dọn dẹp những thứ này, thường là để cho gia súc ăn hoặc làm phân bón. Cách diễn đạt này mang tính vùng miền cao.
7. “mầy”: “Mầy” là một đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, mang sắc thái suồng sã, thân mật, thường dùng để gọi bạn bè ngang vai hoặc nhỏ tuổi hơn, phổ biến ở nhiều vùng quê, đặc biệt là Nam Bộ.
8. “hà”: Từ “hà” được dùng ở cuối câu để thể hiện sự nhấn mạnh, đôi khi có chút than thở hoặc khẳng định. Ví dụ: “Nhà mình nghèo quá hà”. Cách dùng này rất đặc trưng cho phương ngữ Nam Bộ.
9. “Con Út Mót”, “Con Út”, “Con Út Hết”: Cách gọi tên con theo thứ tự trong gia đình (Út là con út) kết hợp với tên riêng, như “Con Út Mót”, “Con Út Hết”, là một nét văn hóa và cách đặt tên, gọi tên phổ biến ở các gia đình đông con, đặc biệt là ở miền Nam.
10. “lựng khựng”: Từ này diễn tả dáng điệu không dứt khoát, ngập ngừng, có chút chần chừ. Đây là một từ ngữ đã khá quen thuộc nhưng cũng mang sắc thái địa phương.
11. “bâu sen”: “Bâu” là một từ ngữ địa phương để chỉ phần cổ áo, thường là phần viền quanh cổ. “Bâu sen” có thể là kiểu cổ áo có nhiều nếp gấp hoặc bèo nhún giống như cánh hoa sen.
12. “nhòng”: Từ “nhòng” ở đây được dùng để miêu tả dáng người cao, mảnh khảnh, có chút gầy gò. Cách diễn đạt “cao nhòng” là một cách dùng khá dân dã và mang tính địa phương.
13. “coi gì được”: Trong ngữ cảnh này, “coi gì được” có nghĩa là “thế nào”, “sao”, “thế nào mới đáng mặt”. Đây là cách diễn đạt mang tính địa phương để hỏi về sự tương xứng hoặc ý nghĩa.
14. “Thiệt đó”: “Thiệt đó” là cách nói khẳng định, nhấn mạnh một điều gì đó là thật, là đúng, tương tự như “thật đó” hay “đúng vậy”. Cách nói này rất phổ biến ở miền Nam.
Các em thấy đó, nhờ những từ ngữ địa phương này, câu chuyện của Nguyễn Ngọc Tư trở nên sinh động và gần gũi hơn rất nhiều. Chúng ta cảm nhận được không khí Tết ở một vùng quê bình dị, tình cảm bạn bè trong sáng và chân thành.
Bài học hôm nay của chúng ta đến đây là kết thúc. Các em về nhà xem lại bài và cố gắng nhận diện thêm các từ ngữ địa phương trong các văn bản khác nhé!
các từ địa phương:
má:mẹ
nôn: nôn nóng
heo:lợn
mầy: mày (bạn)
tao: tôi
hà:thôi
hết sẩy: (tỏ thái độ vui mừng, thỏa mãn)
cao nhòng: (chỉ vật cao, gầy)
thiệt: thật
bì:so
cũ mèm: (rất cũ, rách rưới)
trở: lật
\(-\) Các từ ngữ địa phương có trong văn bản:
\(+\) Má: cách gọi mẹ phổ biến ở miền Nam.
\(+\) Mày: cách gọi bạn thân thiết, suồng sã.
\(+\) Tao: cách tự xưng khi nói chuyện với bạn bè thân thiết.
\(+\) Hà: từ đệm cuối câu, có nghĩa là “chỉ có vậy thôi”.
\(+\) Nôn: chỉ trạng thái nôn nao, mong chờ, háo hức.
\(+\) Trời: dùng làm từ cảm thán tăng mức độ.
\(+\) Bâu: chỉ phần cổ áo.
\(+\) Cao nhòng: chỉ những người có vóc dáng cao và gầy.
\(+\) Trở: hành động lật qua lật lại.
\(+\) Gièm: nói cách khác là “gièm pha”, hoặc ý ở đây là nói dọ hỏi, nói thăm dò.
\(+\) Xịu: chỉ nét mặt buồn bã, ỉu xìu.
\(+\) Cặn: thức ăn thừa, nước cơm dùng để nuôi lợn.

Trợ Lý Xưởng In Thiên Nam
Add comment