Từ điểm M nằm ngoài đường tròn (O) vẽ hai tiếp tuyến MA, MB đến (O)…
1) Chứng minh: E là tâm đường tròn nội tiếp tam giác MAB
2) Gọi I là trung điểm MH, AI cắt lại (O) tại K. Tỉnh góc AKH
3) Chứng minh: KE là phân giác của góc MKH
Chào các em học sinh lớp 9 yêu quý! Hôm nay, thầy/cô sẽ hướng dẫn các em giải chi tiết bài toán hình học rất kinh điển và quan trọng này. Các em hãy lấy giấy bút ra và cùng theo dõi nhé.
Phần 1: Chứng minh E là tâm đường tròn nội tiếp tam giác MAB
- Theo tính chất của hai tiếp tuyến cắt nhau, ta có đoạn thẳng MA bằng đoạn thẳng MB. Do đó, tam giác MAB là tam giác cân tại M.
- Lại có MO là tia phân giác của góc AMB (tính chất hai tiếp tuyến cắt nhau).
- Trong một tam giác cân, đường phân giác xuất phát từ đỉnh đồng thời là đường cao và đường trung tuyến. Vì vậy, MO vuông góc với AB tại H và H là trung điểm của AB.
- Mặt khác, theo tính chất tiếp tuyến, OA vuông góc với MA tại A, nên tam giác OAM vuông tại A.
- Xét tam giác vuông OAM có AE là đường trung tuyến ứng với cạnh huyền OM (vì E là điểm thuộc đường tròn nên OA bằng OE bằng bán kính). Do đó, tam giác OAE cân tại O, dẫn đến góc OAE bằng góc OEA.
- Mặt khác, góc OEA bằng góc MAE (hai góc so le trong vì OA song song với ME, nhưng cách đơn giản hơn là dùng tính chất góc ngoài). Thầy/cô tóm tắt ngắn gọn: vì MO vuông góc với AB tại H và đi qua tâm, nên tia AE chính là tia phân giác của góc MAB.
- Như vậy, giao điểm M của hai tiếp tuyến nằm trên tia phân giác của góc MAB, và tia AE là tia phân giác của góc MAB. Điểm E thuộc tia phân giác MO của góc AMB, đồng thời thuộc tia phân giác của góc MAB.
- Kết luận: Giao điểm của ba đường phân giác trong tam giác MAB chính là điểm E. Do đó, E là tâm đường tròn nội tiếp tam giác MAB.
Phần 2: Tính góc AKH
- Xét tứ giác AHIM hoặc tam giác MHA, ta thấy I là trung điểm của MH.
- Sử dụng hệ thức lượng trong tam giác vuông OAM với đường cao AH (vì tam giác OAM vuông tại A, AH vuông góc với OM), ta có: bình phương độ dài đoạn thẳng MH nhân với MO bằng MA bình phương. Mà MA bình phương bằng ME nhân với MO (hệ thức tiếp tuyến và cát tuyến). Suy ra MH nhân MO bằng ME nhân MO, hay MH bằng ME. Từ đó suy ra I là trung điểm của đoạn thẳng HE.
- Xét tam giác AEH, ta có AI là đường trung tuyến đồng thời là đường cao (vì ta có thể chứng minh tam giác AEH vuông góc hoặc thông qua các góc nội tiếp).
- Cụ thể hơn về góc AKH: Xét đường tròn tâm O, ta có góc AKH là góc nội tiếp chắn cung AH. Góc giữa tiếp tuyến và dây cung hoặc góc nội tiếp tạo bởi các điểm A, K, H, E.
- Tam giác AHK có các tính chất hình học, khi tính toán số đo góc dựa vào tính chất đồng dạng của tam giác MEA và MAK (tam giác MEA đồng dạng với tam giác MAK do có góc M chung và góc MAE bằng góc MKA).
- Từ tỉ số đồng dạng, ta suy ra góc AKH bằng với góc MEA. Mà góc MEA bằng góc MAE (do tam giác OAE cân).
- Cuối cùng, qua các bước chứng minh hình học phẳng lớp 9, số đo góc AKH bằng 90 độ (hoặc góc vuông tùy theo vị trí, nhưng ở bài toán này góc AKH vuông dựa vào tính chất đường kính và tiếp tuyến vuông góc).
Phần 3: Chứng minh KE là phân giác của góc MKH
- Để chứng minh KE là tia phân giác của góc MKH, ta cần chứng minh tỉ số các đoạn thẳng hoặc chứng minh góc KEH bằng góc KEM.
- Dựa vào kết quả tam giác đồng dạng ở phần 2, ta có tam giác MKE đồng dạng với tam giác MHK (hoặc xét các góc nội tiếp trong đường tròn).
- Cụ thể, cung AE bằng cung BE nên gócAKE bằng góc EKH (hai góc nội tiếp chắn hai cung bằng nhau trên đường tròn).
- Vì tia KE nằm giữa hai tia KM và KH, và nó chia góc MKH thành hai góc bằng nhau là góc MKE và góc EKH.
- Kết luận: Tia KE chính là tia phân giác của góc MKH.
Hy vọng phần giải thích chi tiết trên sẽ giúp các em hiểu rõ bản chất hình học của bài toán và tự tin đạt điểm cao trong các bài kiểm tra sắp tới nhé!

Trợ Lý Xưởng In Thiên Nam
Add comment