viết bài văn: Phân tích/Nhận xét một tác phẩm văn học . lớp 8 thi…
viết hay giùm mik nha ,mik tham khảo để đi thi giữa kì 1 :((
Chào em! Đừng lo lắng quá nhé, kỳ thi giữa kì 1 môn Ngữ văn lớp 8 hoàn toàn nằm trong tầm tay nếu em nắm được phương pháp làm bài. Dạng bài viết bài văn phân tích hoặc nhận xét một tác phẩm văn học (cụ thể là truyện ngắn hoặc thơ đã học trong chương trình) rất quen thuộc. Thầy/cô sẽ hướng dẫn em một bài văn mẫu chuẩn xác, lập luận mạch lạc và đạt điểm cao để em tham khảo ôn thi nhé.
Đề bài tham khảo: Phân tích đoạn trích/truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao.
DÀN Ý CHI TIẾT ĐỂ EM NẮM BẮT:
- Mở bài: Giới thiệu tác giả Nam Cao, tác phẩm Lão Hạc và nêu ấn tượng chung về nhân vật Lão Hạc.
- Thân bài:
- Phân tích hoàn cảnh đáng thương và nỗi đau đớn khi phải bán chó của Lão Hạc.
- Phân tích phẩm chất cao quý của lão: lòng tự trọng đáng kính, tình yêu thương con sâu sắc.
- Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật (miêu tả tâm lý sắc sảo, ngôi kể chân thực).
- Kết bài: Khẳng định giá trị nhân đạo của tác phẩm và cảm xúc đọng lại của bản thân.
BÀI VĂN THAM KHẢO:
Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam trước cách mạng. Các tác phẩm của ông luôn xoay quanh số phận đau thương của người nông dân nghèo đói bị vùi dập. Tiêu biểu cho phong cách ấy là truyện ngắn Lão Hạc. Qua nhân vật chính cùng tên, tác giả không chỉ làm nổi bật bức tranh xã hội tối tăm mà còn ngời sáng lên vẻ đẹp tâm hồn của người lao động.
Truyện xoay quanh cuộc đời cô độc và cái chết đau đớn của Lão Hạc. Vợ mất sớm, con trai vì không có tiền cưới vợ nên phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su, lão chỉ còn lại con chó Vàng làm bầu bạn. Cuộc sống ngày càng khốn đốn bởi trận bão và trận ốm dài ngày, lão đứng trước sự lựa chọn vô cùng nghiệt ngã: phải bán đi con chó Vàng. Quyết định bán chó tưởng chừng đơn giản nhưng lại là một nhát dao cứa vào tâm can người cha tội nghiệp. Đằng sau giọt nước mắt và tiếng khóc “thì khoẻ lắm” với ông giáo là một nỗi dằn vặt khôn nguôi. Lão coi việc bán chó là một sự phản bội, tự trách mình đã lừa một con chó. Chi tiết này cho thấy sự lương thiện đến mức tội nghiệp của lão.
Nhưng đỉnh cao của nghệ thuật khắc họa nhân vật chính là khi Lão Hạc tìm đến cái chết. Để bảo vệ mảnh vườn cho đứa con trai đi xa trở về, lão đã từ chối mọi sự giúp đỡ, thậm chí gửi trọn tiền dành dụm lo ma chay cho ông giáo. Cái chết của lão dữ dội, đau đớn như một sự tự vẫn để giải thoát. Đó là hành động của một con người có lòng tự trọng trọng cao độ. Lão thà chọn cái chết còn hơn là ăn vào tiền của con, thà chết đau đớn để giữ gìn nhân phẩm trong sạch của một người nông dân nghèo.
Thành công của tác phẩm không chỉ nằm ở nội dung nhân đạo sâu sắc mà còn bởi nghệ thuật kể chuyện độc đáo. Nam Cao đã chọn ngôi kể là nhân vật ông giáo – người vừa chứng kiến, vừa thấu hiểu, vừa bộc lộ thái độ cảm thông sâu sắc với Lão Hạc. Ngôn ngữ mộc mạc, đậm chất triết lý nhưng vô cùng gần gũi kết hợp với nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế đã làm sống dậy một tượng đài về tình phụ tử và lòng tự trọng.
Tóm lại, Lão Hạc là một tác phẩm văn học xuất sắc vượt thời gian của Nam Cao. Đọc truyện, ta thêm thấu hiểu, cảm thông cho số phận bi thảm của người nông dân trong xã hội cũ, đồng thời thêm trân trọng những phẩm chất cao quý, sáng ngời bản chất lương thiện ẩn giấu bên trong họ. Tác phẩm mãi đọng lại trong lòng người đọc những rung động sâu xa.
LỜI KHUYÊN CỦA THẦY/CÔ KHI ĐI THI:
- Khi làm bài, em hãy đọc kỹ đề để xác định đúng tác phẩm cần phân tích (nếu đề yêu cầu bài thơ, hãy tập trung vào nghệ thuật thơ và các biện pháp tu từ; nếu là truyện ngắn, hãy tập trung vào nhân vật và cốt truyện).
- Trình bày bài viết rõ ràng thành 3 phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
- Dùng dẫn chứng trực tiếp từ tác phẩm để bài làm có sức thuyết phục cao. Chúc em ôn thi thật tốt và đạt điểm cao trong kỳ thi giữa kì 1 sắp tới nhé!
\(***\)
Mỗi mùa xuân đi qua đều để lại trên đất trời một sắc xanh của sự sống nhưng có những mùa xuân không chỉ nở giữa đất trời mà còn nở trong tâm hồn con người. Đã có nhận định cho rằng “Thơ là tiếng nói của tâm hồn, là nơi con người gửi vào ngôn từ những rung động sâu xa nhất trước cuộc đời” và Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải chính là tiếng lòng trong trẻo, thiết tha của một con người trước vẻ đẹp quê hương, đất nước. Từ mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của dân tộc nhà thơ đã đi đến một mùa xuân đẹp nhất đó chính là mùa xuân của sự cống hiến. Qua đó, Mùa xuân nho nhỏ không chỉ là khúc ca về mùa xuân mà còn là lời tâm nguyện chân thành về một lẽ sống đẹp sống khiêm nhường nhưng có ích, âm thầm mà bền bỉ góp phần làm nên mùa xuân chung của đất nước.
Thanh Hải là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Thơ ông thường mang vẻ đẹp chân thành, đằm thắm, gắn bó với quê hương và đất nước. Mùa xuân nho nhỏ được sáng tác vào tháng \(11\) năm \(1980,\) khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh và chỉ ít lâu trước khi ông qua đời. Có lẽ chính vì đứng trước ranh giới mong manh của sự sống, Thanh Hải càng cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của cuộc đời và càng khao khát được sống có ích. Bởi vậy, bài thơ không mang màu sắc bi thương mà ngân lên như một khúc hát trong trẻo về thiên nhiên, đất nước và khát vọng dâng hiến của con người. Mở đầu bài thơ là một bức tranh mùa xuân xứ Huế vừa giản dị vừa nên thơ:
“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời”
Chỉ bằng vài nét chấm phá, Thanh Hải đã mở ra trước mắt người đọc cả một không gian mùa xuân thanh tân. Đó là dòng sông xanh trên nền xanh ấy nổi bật một “bông hoa tím biếc”. Hai gam màu xanh \(-\) tím vừa hài hòa vừa gợi đậm nét vẻ đẹp mộng mơ của xứ Huế. Đặc biệt, động từ “mọc” được đặt ở đầu câu khiến bông hoa như đang vươn mình lên giữa dòng sông, mang theo sức sống căng tràn của đất trời. Nếu màu sắc tạo nên hình hài của mùa xuân thì âm thanh lại khiến bức tranh ấy trở nên có hồn. Tiếng chim chiền chiện vang lên giữa không gian rộng lớn. Tiếng gọi “ơi” và cách hỏi “hót chi mà vang trời” mang đậm sắc thái khẩu ngữ của người miền Trung khiến câu thơ trở nên gần gũi, tự nhiên mà tha thiết. Đó không chỉ là tiếng chim của thiên nhiên mà còn là tiếng reo vui của một tâm hồn đang rung động trước sự sống. Đặc biệt, hai câu thơ:
“Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”
là một hình ảnh giàu sức gợi. Tiếng chim vốn vô hình nhưng qua cảm nhận tinh tế của nhà thơ lại hóa thành những “giọt long lanh” có thể nhìn thấy, có thể đưa tay đón lấy. Đây là phép chuyển đổi cảm giác, đồng thời cũng là sự thăng hoa của cảm xúc. Nhà thơ không chỉ nghe tiếng chim mà dường như muốn nâng niu, giữ lấy từng giọt mùa xuân. Động từ “hứng” diễn tả một tư thế đón nhận đầy trân trọng trước vẻ đẹp của cuộc sống, con người muốn mở rộng lòng mình để cảm nhận từng khoảnh khắc nhỏ bé nhất. Từ mùa xuân của thiên nhiên, cảm xúc của nhà thơ dần mở rộng thành mùa xuân của đất nước:
“Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ.”
Nếu mùa xuân thiên nhiên được tạo nên bởi hoa và tiếng chim thì mùa xuân đất nước được làm nên bởi những con người đang chiến đấu và lao động. “Người cầm súng” là những người bảo vệ Tổ quốc, “người ra đồng” là những người lao động dựng xây quê hương. Hai hình ảnh song hành đã khắc họa một đất nước vừa chiến đấu để bảo vệ sự sống, vừa lao động để kiến tạo tương lai. Hình ảnh “lộc” được sử dụng rất tinh tế. “Lộc” trước hết là chồi non của mùa xuân nhưng trong ngữ cảnh bài thơ, nó còn tượng trưng cho sức sống, thành quả và niềm tin vào tương lai. Người lính mang “lộc” trên lưng, người nông dân đem “lộc” trải dài trên “nương mạ”. Dường như mỗi con người đều đang mang trong mình một phần mùa xuân của đất nước. Nhịp sống ấy được khái quát qua:
“Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao”
Điệp ngữ “tất cả” kết hợp với các từ láy “hối hả”,”xôn xao” đã tạo nên nhịp điệu rộn ràng, khẩn trương. “Hối hả” là nhịp bước của hành động, còn “xôn xao” là nhịp rung động của tâm hồn. Đất nước đang chuyển mình trong một mùa xuân mới, con người đang sống, lao động và cống hiến bằng tất cả sức lực và niềm tin. Song, từ hiện tại, Thanh Hải lại hướng cái nhìn về chiều dài lịch sử
“Đất nước bốn nghìn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.”
Bốn nghìn năm lịch sử được gói lại trong hai từ “vất vả”, “gian lao”. Đó là một đất nước đã đi qua biết bao mất mát, chiến tranh và thử thách. Nhưng sau tất cả, dân tộc vẫn không ngừng tiến về phía trước. Hình ảnh so sánh “Đất nước như vì sao” mang vẻ đẹp vừa lung linh vừa có ý nghĩa biểu tượng. Vì sao luôn tỏa sáng giữa bầu trời cũng như đất nước Việt Nam dù trải qua bao bóng tối vẫn giữ được sức sống và niềm tin. Động từ “đi lên” thể hiện một tư thế chủ động, mạnh mẽ cho thấy niềm tin của nhà thơ vào tương lai dân tộc.
Nếu những khổ thơ đầu là tiếng lòng say mê trước mùa xuân của thiên nhiên và đất nước thì đến đây, cảm xúc chuyển từ ngợi ca sang ước nguyện. Nhà thơ không muốn chỉ đứng ngoài ngắm nhìn mùa xuân mà muốn trở thành một phần của mùa xuân ấy:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.”
Điệp ngữ “ta làm” vang lên liên tiếp như một lời tự nguyện. Nhà thơ muốn hóa thành con chim để cất tiếng hát, thành cành hoa để làm đẹp cho đời, thành một nốt nhạc để hòa vào bản hòa ca chung. Đó là sự vận động tự nhiên của cảm xúc từ cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống đến khát vọng góp phần tạo nên vẻ đẹp ấy. Những hình ảnh “con chim”,”cành hoa”,”nốt trầm” đều nhỏ bé nhưng giàu ý nghĩa. Đặc biệt, Thanh Hải không muốn trở thành một nốt nhạc nổi bật mà chỉ xin làm “một nốt trầm xao xuyến”. Nốt trầm không phải âm thanh gây chú ý nhất nhưng lại tạo chiều sâu và sự hài hòa cho cả bản nhạc. Qua đó, nhà thơ thể hiện một quan niệm sống đẹp cống hiến không nhất thiết phải lớn lao, nổi bật. Và khát vọng của ông được kết tinh đẹp nhất trong những câu thơ:
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.”
“Mùa xuân nho nhỏ” là một hình ảnh ẩn dụ đặc sắc. “Mùa xuân” tượng trưng cho sức sống, tuổi trẻ những điều đẹp đẽ mà con người có thể đem đến cho cuộc đời, còn “nho nhỏ” thể hiện sự khiêm nhường, ý thức về vị trí của cá nhân trước đất nước và cuộc sống rộng lớn. Nhà thơ không mong mình trở thành điều gì quá vĩ đại. Ông chỉ muốn đem phần đẹp đẽ nhất của mình góp vào mùa xuân chung, đáng quý hơn, đó là một khát vọng suốt đời:
“Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.”
Điệp cấu trúc “dù là… dù là…” mở rộng thời gian cống hiến từ tuổi trẻ đến tuổi già. Cống hiến không phải một phút bồng bột mà là một lựa chọn sống bền bỉ. Đặt lời thơ trong hoàn cảnh Thanh Hải đang chống chọi với bệnh tật những câu thơ ấy càng khiến người đọc xúc động. Khi sự sống riêng đang dần ngắn lại, ông vẫn hướng về cuộc đời, vẫn muốn “dâng” phần đời còn lại của mình cho đất nước. Đặc biệt, hai chữ “lặng lẽ” khiến tư tưởng của bài thơ trở nên sâu sắc hơn. Thanh Hải không nói “rực rỡ dâng cho đời” cũng không mong được ghi nhận hay tung hô. Ông chỉ muốn “lặng lẽ dâng”. Đó là một cách sống khiêm nhường mà cao đẹp làm điều có ích không phải để được nhìn thấy mà bởi chính việc cống hiến đã là niềm hạnh phúc. Có lẽ không phải ai cũng cần sống một cuộc đời rực rỡ điều quan trọng hơn là mỗi người đừng để ngọn lửa trong mình tắt đi.
Từ “tôi” ở đầu bài thơ, Thanh Hải chuyển sang “ta” ở những khổ thơ sau. Sự thay đổi ấy không đơn thuần là thay đổi đại từ mà thể hiện sự chuyển biến trong tư tưởng cái tôi cá nhân đã hòa vào cái ta cộng đồng. Nhà thơ không còn chỉ nói về mùa xuân của riêng mình mà muốn góp mùa xuân ấy vào mùa xuân của đất nước. Đây cũng chính là vẻ đẹp lớn nhất của bài thơ khát vọng cá nhân tìm thấy ý nghĩa trong sự hòa nhập với cộng đồng, dân tộc. Khép lại bài thơ là âm hưởng ngọt ngào của quê hương:
“Mùa xuân – ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình.”
Những điệu “Nam ai”, “Nam bình” mang đậm âm hưởng dân ca xứ Huế khiến bài thơ kết thúc bằng một giai điệu vừa tha thiết vừa đằm sâu. Nếu mở đầu là tiếng chim của thiên nhiên thì kết thúc là tiếng hát của con người. Nếu ban đầu nhà thơ đưa tay hứng “giọt long lanh” của mùa xuân thì cuối cùng ông cất tiếng hát để dâng tặng mùa xuân ấy cho quê hương. Hai chữ “mình” và “tình” khép lại bài thơ bằng một dư âm mềm mại khiến tình yêu đất nước hiện lên không khô cứng, giáo điều mà gần gũi như tình yêu dành cho một người thân thuộc.
Góp mặt tạo nên sự thành công cho bài thơ không thể không nhắc đến nghệ thuật, Mùa xuân nho nhỏ hấp dẫn trước hết bởi thể thơ năm chữ với nhịp điệu linh hoạt phù hợp với từng cung bậc cảm xúc. Hệ thống hình ảnh thơ giản dị mà giàu sức biểu tượng: dòng sông xanh, bông hoa tím, tiếng chim, giọt long lanh, mùa xuân, nốt trầm… Các biện pháp nghệ thuật như điệp ngữ, ẩn dụ, so sánh chuyển đổi cảm giác được sử dụng tự nhiên góp phần làm cho ý thơ vừa trong trẻo vừa sâu sắc. Đặc biệt, sự chuyển đổi từ “tôi” sang “ta”, từ mùa xuân thiên nhiên đến mùa xuân đất nước rồi mùa xuân cống hiến đã tạo nên một mạch cảm xúc chặt chẽ. Ngôn ngữ mang đậm màu sắc xứ Huế cũng khiến bài thơ có một giọng điệu riêng dịu dàng, tha thiết mà không kém phần mạnh mẽ.
Có những mùa xuân rồi sẽ đi qua cùng bước chân của thời gian nhưng có những mùa xuân được giữ lại bằng thơ ca và bằng một tấm lòng biết sống vì cuộc đời. Với Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải đã không chỉ để lại một bức tranh xuân trong trẻo mà còn gửi vào đó một lời nguyện ước đẹp đẽ về lẽ sống biết hóa cái tôi nhỏ bé thành một phần có ích của cái ta rộng lớn, biết âm thầm cho đi mà không cần tìm kiếm hào quang. Có lẽ, con người không nhất thiết phải sống một đời rực rỡ mới có thể làm nên điều ý nghĩa. Bởi đôi khi, một nốt trầm cũng đủ làm bản nhạc thêm sâu, một cành hoa cũng đủ làm cuộc đời thêm sắc và một “mùa xuân nho nhỏ” cũng đủ góp vào đất nước một mùa xuân bất tận. Thanh Hải đã khép lại cuộc đời nhưng mùa xuân ông dâng cho đời thì vẫn còn động mãi trong lòng người đọc

Trợ Lý Xưởng In Thiên Nam
Add comment