Xin các cao nhân giúp e làm 1 bài văn phân tích nội dung và nghệ…
Thu đến cây nào chẳng lạ lùng,
Một mình lạt thuở ba đông.
Lâm tuyền ai rặng già làm khách,
Tài đống lương cao ắt cả dùng.
E thì chẳng có j nhiều, xin hậu tạ 40 điểm này
Chào em, một học sinh lớp 8 rất đáng yêu và cầu tiến! Thầy/cô rất vui khi được đồng hành cùng em để giải quyết bài văn khó nhằn này. Bài thơ “Tùng” trích trong tập “Quốc âm thi tập” của đại văn hào Nguyễn Trãi là một bài thơ Nôm Đường luật tuyệt hay, mang đậm tinh thần thép và nhân cách thanh cao của nhà thơ. Bây giờ, thầy/cô sẽ hướng dẫn em lập dàn ý và viết một bài văn phân tích chi tiết, đạt điểm cao nhé!
I. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi: Nhà thơ lớn của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, người có lòng yêu nước, thương dân sâu sắc và một nhân cách thanh cao vượt thời đại.
- Giới thiệu bài thơ “Tùng”: Tác phẩm tiêu biểu cho bức tranh thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn, khí tiết của nhà thơ qua hình tượng cây tùng.
- Nêu khái quát giá trị: Bài thơ là bức chân dung tự họa về ý chí kiên cường, tấm lòng son sắt với đất nước của tác giả trước nghịch cảnh.
II. Thân bài
1. Phân tích nội dung (Chủ đề và ý nghĩa hình tượng cây tùng)
- Hai câu đầu (Bức tranh thiên nhiên và hình ảnh cây tùng):
- Cụm từ “lạt thuở ba đông” gợi tả sự khắc nghiệt của thời tiết mùa đông lạnh giá, khi vạn vật tàn lụi, cỏ cây úa tàn.
- Hình ảnh “một mình” đối lập với không gian lạnh lẽo, khẳng định tư thế hiên ngang, bền bỉ của cây tùng trước bão táp cuộc đời.
- Cây tùng tượng trưng cho người quân tử: Dù hoàn cảnh xã hội có đổi thay, thời thế có nhiễu nhương (mùa đông lạnh giá), nhân cách và ý chí vẫn không hề suyuyển.
- Hai câu cuối (Khát vọng cống hiến và triết lý nhân sinh):
- Câu thơ “Lâm tuyền ai rặng già làm khách” thể hiện thái độ sống gắn bó với thiên nhiên (lâm tuyền), coi nơi suối rừng thanh vắng là chốn bình yên tâm hồn chứ không phải kẻ tha hương (khách) lạc lõng.
- Câu kết “Tài đống lương cao ắt cả dùng” khẳng định tài năng và giá trị con người. Tùng là cây gỗ lớn để làm rường cột (đống lương) cho ngôi nhà lớn, ý chỉ người có tài đức ắt sẽ có ích cho đất nước, giang sơn.
- Đây là tuyên ngôn về lòng tự tôn, niềm tin vào tài năng và lý tưởng sống vì dân, vì nước của Nguyễn Trãi ngay cả khi ngài đang ở ẩn.
2. Phân tích nghệ thuật đặc sắc
- Thể thơ: Thơ Nôm Đường luật thất ngôn bát cú xen lục ngôn (thơ Đường luật thất ngôn xen câu sáu chữ), đánh dấu bước phát triển quan trọng của thơ ca tiếng Việt.
- Nghệ thuật biểu đạt:
- Ẩn dụ tượng trưng: Mượn hình ảnh thiên nhiên (cây tùng) để nói về con người và chí khí người quân tử (thủ pháp mượn vật ngụ tình, tả vật ngụ ý).
- Ngôn ngữ: Sử dụng từ ngữ thuần Việt mộc mạc nhưng giàu sức gợi hình, gợi cảm; các từ Hán Việt được sử dụng trang trọng (đống lương, lâm tuyền).
- Giọng điệu: Trang nghiêm, hào hùng, tự hào nhưng cũng rất điềm tĩnh, sâu lắng.
III. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ “Tùng”.
- Nêu cảm nhận của bản thân (học sinh): Bài học về ý chí kiên cường trước mọi khó khăn trong cuộc sống, luôn giữ vững bản lĩnh và lòng hướng thiện, cống hiến cho đời.
Chúc em hoàn thành bài văn thật xuất sắc và đạt điểm số thật cao nhé! Cứ tự tin triển khai theo các ý trên, bài viết của em chắc chắn sẽ rất thuyết phục.
Bài văn tham khảo : ( em có thể sửa đổi theo ý mình để phù hợp hơn với mong muốn nha )
Nhà triết học Pháp Gaston Bachelard từng nhận định: “Thơ ca là một sự bừng nở của tâm hồn, là nơi ngôn từ cất cánh để chạm đến những khoảng không vô tận của tư tưởng.” Quả thực, sức mạnh diệu kỳ của thơ ca không nằm ở sự phô diễn ngôn từ cầu kỳ, mà ở khả năng mượn hình ảnh thiên nhiên để gửi gắm nét đẹp nhân cách và hoài bão lớn lao của con người. Trong dòng chảy rực rỡ của văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi được tôn vinh là ngọn cờ đầu của nền thơ Nôm với tập “Quốc âm thi tập”. Nổi bật trong chùm thơ vịnh cây cỏ của ông là bài thơ Tùng (bài 1) . Bằng những câu thơ Nôm mộc mạc, bài thơ không chỉ tả cây tùng trong mùa đông lạnh giá mà còn thể hiện khí tiết kiên cường cùng khát vọng sống có ích cho đời của nhà thơ.
Đọc bài thơ, điều đầu tiên ta thấy là cách Nguyễn Trãi đặt cây tùng trong sự đối lập với các loài cây khác khi mùa đông đến. Mùa thu qua đi, mùa đông tới mang theo cái lạnh giá khiến cây cối vạn vật đều “lạ lùng” – tức là héo hon, rụng lá hay biến đổi sắc màu trước thời tiết khắc nghiệt. Nhưng trái ngược với vạn vật, cây tùng vẫn “một mình lạt thuở ba đông”. Từ “lạt” ở đây thể hiện thái độ thản nhiên, không sợ hãi trước gió rét suốt ba tháng mùa đông dài. Nhịp thơ sáu chữ dồn nén xen giữa các câu thơ bảy chữ làm nổi bật dáng vẻ dũng mãnh của cây tùng. Qua hình ảnh ấy, tác giả muốn nói về bản lĩnh của người quân tử : luôn giữ vững phẩm chất thanh cao, không hùa theo đám đông và không bị gục ngã trước khó khăn, sóng gió của cuộc đời.
Không chỉ khen ngợi sức sống của cây tùng, hai câu thơ cuối bài còn thể hiện suy nghĩ và ước mơ lớn lao của Nguyễn Trãi. Dù sống ở chốn “lâm tuyền” – nơi rừng suối ẩn dật, nhưng tác giả lại đặt ra câu hỏi “ai rặng già làm khách”, nghĩa là ai bảo cây tùng ở chốn này chỉ là kẻ đứng ngoài thời thế. Lời đáp nằm ở câu thơ cuối cùng với hình ảnh “tài đống lương cao ắt cả dùng”. Bằng cách dùng từ “đống lương” – tức là rường cột nâng đỡ ngôi nhà lớn, Nguyễn Trãi khẳng định rằng một người có tài năng và đạo đức tốt thì nhất định sẽ được trọng dụng để gánh vác việc lớn, giúp đỡ nhân dân. Qua đó, ta thấy được tấm lòng luôn hướng về đất nước của Nguyễn Trãi, dù hoàn cảnh có đẩy ông về sống ẩn dật thì trong tâm trí ông vẫn luôn đau đớn muốn cống hiến cho dân, cho nước.
Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng nhờ cách dùng thể thơ Đường luật biến thể rất sáng tạo. Nguyễn Trãi đã xen các câu thơ sáu chữ vào bài thơ bảy chữ khiến bài thơ đọc lên nghe tự nhiên, khỏe khoắn chứ không bị gò bó. Ngôn ngữ chữ Nôm giản dị, gần gũi kết hợp với cách ẩn dụ tài tình đã giúp bài thơ vịnh cây tùng trở nên sinh động và sâu sắc.
Đặt bài thơ Tùng của Nguyễn Trãi bên cạnh các sáng tác cùng chủ đề của các thi nhân trung đại khác, ta mới thấy rõ nét riêng trong tư tưởng của ông. Cũng viết về loài cây này, nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này từng mượn hình ảnh tùng để thể hiện lối sống nhàn dật, giữ mình thanh cao qua những câu thơ tả cây tùng vui cùng suối đá, giữ sắc xanh không đổi trước tuyết sương. Tuy nhiên, cây tùng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thiên về sự lánh đời, giữ trọn nét thanh cao cá nhân. Trong khi đó, cây tùng của Nguyễn Trãi dù sống chốn lâm tuyền vẫn mang nặng nỗi niềm “đống lương”, luôn khao khát được dâng hiến sức mình cho nhân dân và đất nước. Đó chính là vẻ đẹp nhân văn vô cùng lớn lao và khác biệt ở Nguyễn Trãi.
Nhà phê bình văn học Belinsky từng khẳng định: “Thơ ca trước hết phải là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”. Bài thơ Tùng (bài 1) của Nguyễn Trãi đã bước ra từ chính nhịp đập cuộc đời và khí tiết cao đẹp của bậc đại thi hào để trở thành một kiệt tác sống mãi với thời gian. Qua hình tượng cây tùng kiên cường trước băng giá, tác giả không chỉ để lại một nốt hoa mỹ cho dòng thơ Nôm dân tộc mà còn truyền gieo bài học nhân sinh vô giá cho thế hệ trẻ về bản lĩnh sống kiên trung, không gục ngã trước khó khăn và luôn hướng tới những giá trị cống hiến cao đẹp.
Chúc em học tốt! Nếu thấy hay thì cho chị 1 trả lời hay nhất nha.
\(***\)
“Thi trung hữu họa, thi trung hữu nhân.” Thơ ca không chỉ vẽ nên dáng hình của thiên nhiên mà qua thiên nhiên còn soi chiếu bóng dáng, tâm hồn và nhân cách con người. Bởi thế, trong tác phẩm “Tùng” Nguyễn Trãi không đơn thuần viết về một loài cây mà mượn dáng tùng hiên ngang giữa “ba đông” để gửi gắm vẻ đẹp của khí tiết, bản lĩnh và chí hướng của người quân tử. Với hình ảnh giàu sức biểu tượng, ngôn ngữ cô đọng và bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc bài thơ bốn câu đã mở ra một chiều sâu tư tưởng lớn lao.
Nguyễn Trãi là một trong những đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam, một con người mà ở đó tài năng văn chương luôn song hành với một nhân cách lớn và một tấm lòng đau đáu với dân, với nước. Thơ ông thường tìm đến thiên nhiên nhưng thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi hiếm khi chỉ là thiên nhiên thuần túy mà cảnh vật trở trong thơ ông trở thành tấm gương phản chiếu tâm hồn, nơi nhà thơ gửi gắm khí phách, nhân cách và những suy tư về lẽ sống. Trong mạch thơ ấy, “Tùng” là một bài thơ tiêu biểu, chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn Nguyễn Trãi đã dựng lên hình tượng cây tùng bền bỉ trước mùa đông, qua đó ngợi ca phẩm chất của người quân tử kiên cường trước nghịch cảnh, giữ vững khí tiết và luôn mang trong mình tài năng, chí hướng để phụng sự cuộc đời.
Trước hết, hình tượng cây tùng hiện lên với một sức sống mạnh mẽ và bản lĩnh phi thường trước sự khắc nghiệt của thời gian:
“Thu đến cây nào chẳng lạ lùng,
Một mình lạt thuở ba đông.”
“Thu đến” là thời điểm thiên nhiên bắt đầu chuyển mình. Cây cối vốn xanh tươi nay đứng trước quy luật khắc nghiệt của thời gian khi mùa đông dần phủ xuống đất trời. Cụm từ “cây nào chẳng” gợi ra một quy luật phổ biến trước sự đổi thay của thời tiết muôn loài đều ít nhiều biến sắc. Nhưng giữa cái “chẳng” của số đông lại xuất hiện một hình ảnh hoàn toàn khác biệt “một mình”. Chỉ hai chữ mà dựng lên cả một tư thế. Tùng không hòa tan vào đám đông, không nương theo hoàn cảnh càng không để ngoại cảnh quyết định sự tồn tại của mình. Nó đứng riêng một mình đối diện với “ba đông”. Đặc biệt, cụm từ “ba đông” không chỉ gợi ba tháng mùa đông mà còn gợi một khoảng thời gian dài đằng đẵng của giá rét, thử thách. Còn “lạt” ở đây mang sắc thái bình thản không quá bận tâm như thể cái lạnh của mùa đông không đủ sức lay chuyển cây tùng. Nếu mùa đông là phép thử của thiên nhiên thì tùng chính là kẻ vượt qua phép thử ấy bằng sự bền bỉ của mình. Cái lạnh càng sâu, sức sống càng được khẳng định nghịch cảnh càng khắc nghiệt bản lĩnh càng được hiện rõ.
Tuy nhiên, Nguyễn Trãi không chỉ nói về sức sống của một loài cây. Trong văn học trung đại, thiên nhiên thường mang tính biểu tượng và cây tùng vốn là một hình tượng quen thuộc gắn với phẩm chất của người quân tử. Vì vậy, “một mình” còn có thể được hiểu như tư thế của con người trước thời thế. Người quân tử chân chính đôi khi phải đứng một mình phải chấp nhận sự cô độc để bảo vệ điều mình tin tưởng. Đó không phải sự cô độc của yếu đuối mà là sự đơn độc của bản lĩnh. Có những lúc giữa dòng đời biến động giữ được mình đã là một cách chiến thắng hoàn cảnh. Nếu hai câu đầu chủ yếu khắc họa khí tiết, thì hai câu cuối lại mở rộng hình tượng tùng sang một phương diện khác tài năng và giá trị của người quân tử:
“Lâm tuyền ai rặng già làm khách,
Tài đống lương cao ắt cả dùng.”
“Lâm tuyền” là chốn rừng suối nơi con người có thể tìm về với thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi. Hình ảnh ấy gợi đến cuộc sống ẩn dật, thanh sạch nhưng câu thơ “Lâm tuyền ai rặng già làm khách” vang lên như một câu hỏi đầy suy ngẫm: chẳng lẽ cây tùng chỉ có thể sống đời “làm khách” nơi rừng suối hay sao? Đằng sau câu hỏi ấy dường như đã thấp thoáng bóng dáng con người Nguyễn Trãi một con người từng tìm về với thiên nhiên nhưng trong sâu thẳm chưa bao giờ thôi mang nặng chí hướng với cuộc đời. Đặc biệt, câu thơ cuối là nơi tư tưởng của bài thơ được đẩy lên cao nhất “Tài đống lương cao ắt cả dùng”. “Đống lương” vốn gợi những cây gỗ lớn có thể làm rường cột từ đó trở thành biểu tượng cho người có tài, có khả năng đảm đương những việc lớn. Nếu cây tùng chỉ sống khỏe giữa mùa đông thì đó mới là sức sống nhưng cây tùng có “tài đống lương” thì nó còn mang giá trị. Nó không sinh ra chỉ để tồn tại mà còn có thể trở thành vật hữu dụng cho đời.
Đáng chú ý là chữ “ắt” mang sắc thái khẳng định mạnh mẽ. Nguyễn Trãi dường như tin chắc rằng cái tài chân chính rồi sẽ có lúc được trọng dụng. Dù hiện tại có thể ở chốn “lâm tuyền”, dù có lúc phải đứng một mình giá trị của người có tài vẫn không vì thế mà mất đi. Từ đây, hình tượng cây tùng đã hoàn toàn vượt khỏi giới hạn của một loài cây để trở thành biểu tượng cho người quân tử có khí tiết và có tài năng. Hai câu cuối vì thế còn gợi ra một quan niệm sống rất đẹp của Nguyễn Trãi ở ẩn không đồng nghĩa với trốn chạy cuộc đời. Người quân tử có thể tìm về với thiên nhiên để giữ gìn tâm hồn nhưng trong sâu thẳm vẫn mang một khát vọng được đem tài năng giúp đời. Đây cũng là một phương diện quan trọng trong tư tưởng Nguyễn Trãi. Ông luôn hướng tới một cuộc sống có ích, một đời sống mà tài năng cá nhân phải gắn với trách nhiệm đối với cộng đồng. Bởi thế, cây tùng vừa có vẻ đẹp của một con người biết giữ mình, vừa có vẻ đẹp của một con người muốn dấn thân.
Ở một tầng sâu hơn, hình tượng tùng còn có thể xem là sự tự họa kín đáo của Nguyễn Trãi. Nhà thơ từng trải qua những biến động lớn của lịch sử, từng có những lúc lui về với thiên nhiên nhưng trong ông chưa bao giờ mất đi ý thức về tài năng và trách nhiệm. Bởi vậy, viết về tùng cũng là cách Nguyễn Trãi nói về chính mình mà không cần trực tiếp xưng danh. Cây đứng giữa đất trời nhưng phía sau dáng cây là dáng người, lời nói về tùng thực chất là lời tự khẳng định về một nhân cách. Chính sự nhập nhòa giữa đối tượng miêu tả và chủ thể trữ tình đã làm nên chiều sâu của bài thơ.
Không chỉ có giá trị về nội dung tư tưởng, “Tùng” còn đặc sắc ở phương diện nghệ thuật. Trước hết, Nguyễn Trãi sử dụng thành công bút pháp tả cảnh ngụ tình, mượn vật nói người. Nhà thơ không trực tiếp giảng giải thế nào là người quân tử mà để phẩm chất ấy hiện lên qua dáng tùng thiên nhiên vì vậy trở thành ngôn ngữ thứ hai của tư tưởng. Song, ghệ thuật đối lập cũng được sử dụng rất đắt “cây nào” đối lập với “một mình”, sự khắc nghiệt của “ba đông” đối lập với sức sống của “tùng”, chốn “lâm tuyền” đối lập với “đống lương” có khả năng “cả dùng”. Những thế đối lập ấy không chỉ tạo sức căng cho câu thơ mà còn giúp hình tượng tùng phát triển theo chiều sâu từ một loài cây bền bỉ đến một biểu tượng của khí tiết, từ một con người có tài đến một nhân cách mang chí hướng nhập thế.
Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, giàu sức gợi là một thành công nổi bật. Nguyễn Trãi không sử dụng quá nhiều hình ảnh cầu kỳ mà chỉ chọn một vài từ khóa có sức nén lớn như “một mình”,”ba đông”, “lâm tuyền”, “tài”, “ắt”, “dùng”. Mỗi chữ vừa có nghĩa tả thực vừa mang tầng nghĩa biểu tượng. Đặc biệt, câu “Một mình lạt thuở ba đông” với cấu trúc lục ngôn tạo một nhịp thơ ngắn, chắc như một nét khắc mạnh góp phần làm nổi bật tư thế vững vàng của cây tùng. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt cũng góp phần tạo nên sự hàm súc cho tác phẩm. Chỉ bốn câu thơ nhưng cấu tứ vận động rất tự nhiên. Hai câu đầu mở ra thử thách và sức sống, hai câu sau nâng hình tượng lên thành một quan niệm nhân sinh. Cách triển khai ngắn mà sâu ấy cho thấy tài năng của Nguyễn Trãi trong việc dồn nén tư tưởng lớn vào một hình thức nghệ thuật nhỏ gọn.
Có thể nói, nội dung sâu sắc và nghệ thuật đặc sắc trong “Tùng” không tồn tại tách rời mà hòa quyện, nâng đỡ lẫn nhau để tạo nên sức sống cho tác phẩm. Chính nhờ nghệ thuật mượn vật nói người mà tư tưởng về người quân tử không trở nên khô cứng, ngược lại, chính chiều sâu tư tưởng khiến hình ảnh cây tùng vượt lên trên một bức tranh thiên nhiên đơn thuần. Cây tùng được nghệ thuật hóa thành biểu tượng, còn tư tưởng được hình tượng hóa thành dáng cây. Nhờ vậy, bốn câu thơ ngắn ngủi mà mở ra cả một thế giới của khí phách, tài năng và nhân cách.
Nhà thơ R.Tagore từng viết: “Thơ ca là tiếng vọng của tâm hồn qua những hình thức đẹp đẽ nhất.” Với Nguyễn Trãi, tiếng vọng ấy đã ngân lên từ một hình tượng tưởng chừng rất đỗi bình thường qua cây tùng. Qua “Tùng”, vẻ đẹp của thiên nhiên hòa cùng vẻ đẹp của nhân cách để khí tiết, tài năng và chí hướng của người quân tử hiện lên vừa cứng cỏi vừa thanh cao. Bốn câu thơ khép lại nhưng dáng tùng vẫn còn đứng đó xanh giữa ba đông và xanh cả trong miền ký ức của người đọc

Trợ Lý Xưởng In Thiên Nam
Add comment